phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý thuyết về môi trƣờng phi tuyến kiểu Kerr. Lý thuyết các trạng thái phi cổ điển Chƣơng II: Các tiêu chuẩn dò tìm tƣơng quan lƣợng tử Chƣơng III. Tƣơng quan lƣợng tử trong bộ ghép ba dao động tử phi tuyến kiểu Kerr với kiểu tƣơng tác tuyến tính 4 CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƢỜNG PHI TUYẾN KIỂU KERR.
LÝ THUYẾT CÁC TRẠNG THÁI PHI CỔ ĐIỂN 1.1 Lý thuyết về môi trƣờng phi tuyến kiểu Kerr Chúng ta biết rằng, trƣờng điện từ tại mỗi điểm trong không gian đƣợc đặc trƣng bởi bốn véctơ. Véc tơ cƣờng độ điện trƣờng E , véc tơ cảm ứng từ D, véc tơ cƣờng độ từ trƣờng H và véc tơ cảm ứng từ B. Các đại lƣợng này là hàm của toạ độ và thời gian, chúng không biến thiên một cách tuỳ ý mà tuân theo những quy luật xác định. Năm 1860 Maxwell đƣa ra một mô tả hoàn chỉnh về quy luật biến thiên của chúng và khái quát hoá bằng một hệ phƣơng trình tổng quát: D r , t r , t , 1.4 t cùng với các phƣơng trình liên hệ (phƣơng trình vật chất).5) Trong đó, J r , t và r, t là véctơ mật độ dòng điện và mật độ điện tích; , và là độ điện thẩm, độ từ thẩm và độ dẫn điện của môi trƣờng.
Trong chân không 1 0 10 9 F , 0 4 10 7 H. 36 m m Phƣơng trình (1.1) cho thấy nguồn gốc sinh ra điện trƣờng là điện tích và trƣờng này là trƣờng thế. Phƣơng trình (1.2) cho thấy từ trƣờng là một trƣờng xoáy, các đƣờng sức từ là những đƣờng cong kín. Hai phƣơng trình 5 (1.4) là những phƣơng trình cơ bản nhất của trƣờng điện từ, chúng đƣợc xây dựng dựa trên định luật dòng toàn phần và định luật cảm ứng từ của Faraday.
Phƣơng trình (1.3) cho thấy từ trƣờng biến thiên sinh ra điện trƣờng và là điện trƣờng xoáy, phƣơng trình (1.4) cho biết nguồn gốc sinh ra từ trƣờng là do dòng điện và sự biến thiên của điện dịch. Các phƣơng trình (1.5) thể hiện phản ứng của môi trƣờng khi có điện trƣờng ngoài tác dụng. Các đặc trƣng cơ bản của môi trƣờng vật chất đƣơc thể hiện qua các tham số điện từ của nó. Nếu các tham số điện từ , , là hằng số thì môi trƣờng đƣợc gọi là đồng nhất và đẳng hƣớng, khi đó các véctơ trƣờng song song từng cặp với nhau E // D, B // H.
Môi trƣờng đƣợc gọi là tuyến tính nếu các tham số điện từ , và không phụ thuộc vào cƣờng độ điện trƣờng. Và các phƣơng trình (1.5) khi đó sẽ là các phƣơng trình tuyến tính. Trong trƣờng hợp các tham số điện từ phụ thuộc vào cƣờng độ trƣờng thì môi trƣờng đƣợc gọi là môi trƣờng phi tuyến. Nếu các tham số , và theo các hƣớng khác nhau có giá trị khác nhau thì môi trƣờng đƣợc gọi là không đẳng hƣớng.
Trong môi trƣờng này các tham số điện từ , có dạng tenxơ. Chúng ta sẽ có đƣợc cách mô tả tƣơng đƣơng các trƣờng hợp chính xác hơn khi chúng ta đƣa vào khái niệm phân cực của môi trƣờng, là sự biểu hiện của môi trƣờng trƣớc sự nhiễu loạn gây ra bởi sự có mặt của trƣờng. Có thể coi một môi trƣờng bất kì là tập hợp các điện tử và các ion dƣơng. Khi không có trƣờng ngoài “trọng tâm” điện tích âm (đám mây điện tử) trùng với vị trí trọng tâm của ion mang điện tích dƣơng (hạt nhân).
Khi có mặt trƣờng ngoài, các ion dƣơng chuyển động theo hƣớng của trƣờng, còn các điện tích âm theo hƣớng ngƣợc lại. Trong các chất dẫn điện có một số điện tích tự do, dƣới sự tác động của trƣờng ngoài, chuyển động của các điện tích này tạo thành một dòng. Còn trong các chất điện môi, có các điện tích liên kết với nhau, song tâm đám mây điện tử bị dịch chuyển khỏi hạt nhân. Khi đó sẽ xuất hiện một lƣỡng cực cảm 6 ứng.
Tổng các lƣỡng cực này cho ta sự phân cực của môi trƣờng, lúc đó ta có thể viết: D 0 E P 0 (1 ) E, (1.6) trong đó P là véc tơ phân cực của môi trƣờng, còn là độ cảm điện của chất điện môi. Trong trƣờng hợp tổng quát có thể là tenxơ. Cách mô tả cuối cùng này đặc biệt thuận tiện vì cho phép ta khái quát hoá trong trƣờng hợp các môi trƣờng phi tuyến, lúc đó véc tơ phân cực sẽ bao gồm hai thành phần: phân cực phi tuyến và phân cực tuyến tính.7) ở đây phân cực tuyến tính P L phụ thuộc tuyến tính vào E , còn phân cực phi tuyến P NL phụ thuộc phi tuyến vào E. Khi ta có thể bỏ qua P NL là khi cƣờng độ các trƣờng nhỏ, ta có quang học tuyến tính.
Khi các trƣờng có cƣờng độ lớn ta không thể bỏ qua P NL , lúc đó ta có quang học phi tuyến. Nhƣ vậy ta thấy rằng tính phi tuyến không chỉ phụ thuộc vào môi trƣờng mà còn phụ thuộc vào cƣờng độ của các trƣờng ngoài tác động. Ngƣời ta lấy ngày quan sát đƣợc sự phát hoà âm bậc hai là ngày sinh của quang học phi tuyến. Không phải ngẫu nhiên mà điểm khởi đầu của quang học phi tuyến xảy ra sau sự xuất hiện của laser đầu tiên, bởi lẽ nhƣ ta biết laser là nguồn bức xạ có cƣờng độ lớn.
Đại lƣợng trong phƣơng trình (1.5) thể hiện sự phản ứng của môi trƣờng khi có tác động của điện trƣờng ngoài. Dƣới tác động của trƣờng có cƣờng độ mạnh nhƣ trƣờng bức xạ của laser các tính chất quang học của môi trƣờng nhƣ chiết suất, độ phân cực sẽ phụ thuộc vào cƣờng độ của trƣờng. Chính sự phụ thuộc vào cƣờng độ trƣờng của các tính chất quang học đã gây nên những hiệu phi tuyến. Tuỳ thuộc vào tính chất của môi trƣờng và cƣờng độ của trƣờng ngoài mà sẽ có các hiệu ứng phi tuyến khác nhau.
Sự phân cực của điện môi 7 Ánh sáng lan truyền qua môi trƣờng có cƣờng độ mạnh thì phản ứng của môi trƣờng trở thành phi tuyến. Các véc tơ phân cực P phụ thuộc vào cƣờng độ trƣờng ngoài. Trong trƣờng hợp điện môi tuyến tính, véctơ phân cực sẽ tỉ lệ thuận với cƣờng độ trƣờng thông qua phƣơng trình P 0 E , tuy nhiên đây chỉ là trƣờng hợp trƣờng tác dụng có cƣờng độ nhỏ. Khi cƣờng độ ánh sáng lan truyền mạnh thì véc tơ phân cực thoã mãn quan hệ phi tuyến [11].8) trong đó , 2 , 3 và n lần lƣợt là độ cảm tuyến tính, bậc hai, bậc ba và 1 bậc n.
Trong bất kỳ một môi trƣờng vật lý thực nào, phải trải qua một khoảng thời gian nhất định thì sự phân cực vĩ mô mới đƣợc xác lập, hay nói cách khác môi trƣờng mới kịp hƣởng ứng. Đồng thời sự phân cực này cũng tồn tại một thời gian nữa sau khi điện trƣờng ngoài mất đi. Nhƣ vậy là phân cực xuất hiện tại thời điểm t là kết quả tác động của điện trƣờng E trong một khoảng thời gian hữu hạn trƣớc . Khoảng thời gian dùng để cấu thành phân cực vĩ mô P là một đại lƣợng đặc trƣng của môi trƣờng.
Hiệu ứng Kerr Trong môi trƣờng đối xứng tâm, thành phần phân cực phi tuyến bậc hai bị mất đi vì khi điện trƣờng đổi chiều, véctơ phân cực cũng đổi chiều. Khi đó ta chỉ có số hạng phân cực phi tuyến bậc ba [30] P3 0 3 E 3 , (1. Sau khi khám phá ra hiệu ứng hòa âm bậc hai tƣơng ứng với thành phần phân cực bậc hai, nhiều hiệu ứng phi tuyến khác đã đƣợc nghiên cứu trong rất 8 nhiều các công trình. Trong phần lớn các vật liệu quang học, véc tơ phân cực bậc hai biến mất bởi vì tính đối xứng của vật liệu, và thành phần phi tuyến bậc ba khi đó trở nên nổi trội.
Vật liệu hay những môi trƣờng nhƣ vậy đƣợc gọi là môi trƣờng Kerr, hay nói cách khác môi trƣờng Kerr là môi trƣờng đƣợc đặc trung bởi độ cảm phi tuyến bậc ba. Ánh sáng có tần số ω lan truyền trong môi trƣờng đẳng hƣớng phi tuyến kiểu Kerr, véc tơ phân cực có thể viết lại dƣới dạng Pi (3) ij3kl E j Ek El .10) Khi đó ta có thể nói, môi trƣờng Kerr đƣợc đặc trƣng bởi độ cảm phi tuyến bậc ba của nó. Đề tài tập trung vào nghiên cứu thăng giáng lƣợng tử trong các hệ phi tuyến kiểu Kerr, những hệ này không thể mô tả bằng ứng dụng của trƣờng điện tử cổ điển. Do đó chúng tôi áp dụng mô hình đƣợc đặc trƣng bởi các Hamiltonian mô tả các mô hình thông qua việc lƣợng tử hóa trƣờng điện từ.
Véc tơ cƣờng độ điện trƣờng E của trƣờng điện từ đơn mode có thể thay thế bằng một toán tử tƣơng ứng. Toán tử này có thể biểu diễn bằng các sử dụng toán tử bosonic sinh và hủy và viết lại dƣới dạng E E E , (1.12) † và E E , tham số V đặc trƣng cho thể tích lƣợng tử hóa, aˆk là thành phần toán tử hủy tƣơng ứng với photon moment k và đƣợc mô tả bởi véc tơ phân cực đơn vị e . Lƣu ý hai toán tử E và E liên hệ với thành phần phụ thuộc vào thời gian exp it và exp it . 9 Cách xác định các toán tử tƣơng ứng với lƣợng tử hóa trƣờng điện từ đơn mode nhƣ trên cho phép ta viết Hamiltonian để mô tả các hiệu ứng xuất hiện trong quá trình trƣờng điện từ lan truyền trong môi trƣờng Kerr dƣới dạng: [11] a †2 2 Hˆ nl a aˆ aˆ .13) 2 Nhƣ vậy có thể thấy rằng, do tính chất của môi trƣờng mà trong sau khi lƣợng tử hóa toán tử Hamiltonian đã xuất hiện các thành phần (aˆ )2 aˆ 2.
Chính điều này là cơ sở cho việc xây dựng mô hình kéo lƣợng tử phi tuyến dựa trên các dao động tử phi tuyến kiểu Kerr.