mở đầu (3 trang); chojơng 1: lồng quan lài liệu (13 trang); chojơng 2: đối lojợng, nội dung và phơjơng pháp nghiên cứu (3 trang); chơjơng 3: kết quả nghiên cứu (37 trang); kết luận (1 lrang); danh mục các hình vẽ, danh mục các bảng, danh mục ảnh màu, danh mục chữ viết lắt các phòng liêu sản, danh mục các công trình công số của lác giả (03 công trình); lài liệu tham khả0 (73 lài liệu); lrang web tham khả0 (06 trang); sảng lra cứu lên khOa học, bảng lra cứu lên Việt IIlam, phụ lục ảnh màu, bản đồ. TONG QUATI TAI LIEU 1. Tình hình nghiên cứu chỉ Hhụy thập (Slaur0syne Wall.) trên thế giới Trơjớc khi chi IIhụy thập đojợc thành lập năm 1831, lừ thế ky 18, Limaeus (1753) [71] ngojời đojợc c0i là ông tổ của ngành phân lOại thực vật, đã mô lá và đặi lên ch0 6 chỉ và 30 l0ài mà sau này chúng đojợc xếp và0 họ Ô rô (Ezanthemum (1 10ai), Justicia (11 10ai), Acanthus (4 10ai), Baelezia (5 10ai), Tuellia (8 10ai), Diantheza (1 10ai). cdc chi và lOài này đojợc lác giả xép va phân lớp hai nhị, một vòi nhụy (diandria m0n0gvymia) và 4 nhị với 2 dài và 2 ngắn (Dydinamia) còng với nhiều chỉ và l0ài của nhiều họ khác còng có chung đặc điểm lrên nhơi họ bạc hà (Lamiaceae), họ cỏ r01 ngựa (Verbenaceae), họ IIhài (0leaceae),.
de Jussieu (1789) [70] là nhà thực vật học đầu liên đã hệ thống h0á lại các chi thành các họ riêng biệt và đặt lên ch0 nhiều họ thực vậi, lr0ng đó cé ho Acanthaceae. Ong da sap xép 8 chi (AcantAus, baelezia, Duellia,.) va0 họ này và đặt lên là Acanthi. br0wn đã chỉnh lý lại lên gọi Acanhhi thành Acanthaceae nhơịng vẫn lấy lên tac giả là Jussieu. Sau may các công trình nghiên cứu về họ này đều lấy lên là Acanthaceae Juss.
Ilăãm 1831, [73] Wallich chính thành lập chi S/2ue0gyne voi 1 10ai dajgc công bô Staue0gyne aegentea. Kể từ đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về mặt hệ thống phân l0ại họ Ô rô và chỉ Hhụy thập với nhiều quan điểm khác nhau. Qua nghiên cứu các hệ thông phân l0ại, dé tài luận văn nhận thấy có các quan điểm phân chia chính sau đây: 1. Quan điểm thi what: chỉ IIhụy thập là một chỉ độc lập thuộc quan điểm phân chia the0 tong (ious) va phan tong (suvizious).
Hees (1832) [74] co thé c0i 1a mgojoi đầu liên đoỊa ra hệ thống phân l0ại họ Acanlhaceae. Tác giả dựa vàO đặc điểm hại đính trên giá nÖãn có móc cÔng dé chia ho Acamthaceae lhành 3 lông: Thướoeagieae, ITelsOnieae va Echmatacanthi. Dac diém chính để phân chia thành 3 lông chính là: Tông Thunveegieae va tong IIlels0nieae hại đính trên gia n0an khong co moc cOng (Tetinacula); tng Echmatacanthi véi dic diém hat dimh trên giá n0ãn có móc cOng; ng0ai ra long Echmatacanthi đojợc chia thành 7 phân lông. Iees đojợc cÖi là ngoyời đầu tiên đặt nền móng ch0 việc xây dựng hệ thống phân lOại họ Acanlhaceae sau này.
Tác giả dựa vàO0 đặc điểm móc lrên giá n0ãn dé phân chia ra các nhóm nhỏ là rất hợp lý và các lác giả sau này cũng đều căn cứ và0 đặc điểm đó đề phân chia họ Acanthaceae. Tuy nhiên đ0 số lojợng chỉ nghiên cứu khi đó con it (56 chỉ), vì vậy hệ thống của IIees còn nhiều thiếu sót. Tên lông Echmatacanthi khong đúng về mặt danh pháp và sau này hầu nhơi không đojợc các lác giả thừa nhận. Tr0ng phân lông Justicieae tac gia chia thành 3 divisi0n (nhánh) (7 elli0ideae, Gendaausseae và Esanlhema), thuật ngữ này là không chính xác, vì lên của Bac phan 10ai nay 1a ngành.
Tr0ng hệ thống này, lác giả không đề cập đến chi Š#zz0gyne đã đơjợc Wallich công số một năm lrơjớc đó. chỉ Esezmaieza đơjợc tác giả công bô mới, với 3 l0ài thuộc lông /7els0mieae mà chỉ này về sau là lên đồng nghĩa của Slaue0gyne. IIhơi vậy đây chỉ c0i là cách sắp xếp đơn giản một số l0ài và còn nhiều thiếu sót, vì vậy khó đề sắp xếp các l0ài thuộc chỉ IIhụy thập hiện nay. Ilees lr0ng công lrình với A.
de candOlle [72] dựa và0 đặc điểm: hại đính lrên giá nÖãn co moc cOng, mau cOng tén hại, số lolợng nhị, số lolơng sa0 phấn, hình dạng và vị trí đính của sa0 phấn,. để đoỊa ra 7 hệ thống phân l0ại họ Acanlhaceae gồm 11 tông. hệ thống này gần giống hệ thống cua lac giả năm 1832; lông 7hưnoeagieae và llelsO0nieae đojợc lác giả giữ nguyên, các lông Ayge0phileae, Iuellieae, bazlezieae, Andz0geaphideae, Didliptezeae dggc tac giả nâng lên từ các phân lông (sublrieus) loJơng ứng răm 1832. Tách phân t6ng Acantheae thanh lập 2 lông mới là A@œmiheae và Aphelandzeae.
Tac gia cing thành lập lông mới là Eeanlhemeae dựa va0 divIsi0n (nhánh) trojéc đó của năm 1832. Tr0ng hệ lhống này, lác giả đã thừa nhận chỉ Šzuz0gyne là lên đồng nghĩa của chỉ Esezrnaieea; mộ số l0ài mới đơjợc công sô thêm. Quan điểm vẫn giữa nguyên Esezmaieea là một chỉ độc lập thuộc tông J7els0nieae (gồm các chi Elyteazia, IlelsOmia, Aden0sma, Eoeamaieea, Ezythzacanthus). Day là một công trình vĩ đại, đơyợc nhiều nhà thực vật sử dụng sởi lr0ng đó mô lá lất cả các l0ài đã siết về cây hai lá mầm, cây hại trần cũng nhơi công số nhiều l0ài mới ch0 kh0a học.
Tuy nhiên về mặt hệ thống phân l0ại thì d0 hệ thống này ra đời rất som, khi choja có các luật danh pháp cụ thể ch0 việc đặt tên các lax0n nên hệ thống của E. Hees (1847) còn nhiều nhằm lẫn, rất phức lạp, khó hiểu ch0 ngojời sử dụng. IIg0ài ra hiện nay, chỉ Ezy‡/heaœimthus cũng là lên đồng nghĩa của chi Staue0gyne. h00ker (1876) [68] vẫn dựa và0 đặc điểm hại đính trên giá n0ãn với móc c0ng nhọ Ilees, nhoịng đã lổng hợp thêm nhiều dẫn liệu về đặc điểm hình thái nhọ các sắp xếp của cánh tràng, đặc điểm của dai, trang, nhị, nhụy, quả,.
để đơia ra mội hệ thống gồm 5 lông, I1 phân tông. Với nhiều chi đơjợc công số mới sau hệ thống của E. IIees (1847), thì hệ thống của G. h00ker xây dựng lrên cơ sở nghiên cứu 120 chi, va đã sắp xếp họ Acanlhaceae thành 5 lông nhơ sau: - Tribus I.
Thuy tràng xếp vặn (c0nl0ri). bầu 2 ô, mỗi ô chứa 2 nÖãn h0ặc lép. hại hình cầu. Thuỳ tràng xếp lợp.
bầu 2 ô, mỗi ô chứa nhiều nÖãn. hạt nhỏ, hình cầu. Thuỳ tràng xếp lợp. bầu mỗi ô mang 2 đến nhiều nÖãn (hiếm khi 8 n0ãn), l hàng h0Oặc nhiều hàng xếp chồng lên nhau.
hại sj ép đẹi phẳng, rồn hại gần mép phía gốc, có móc cÚng. Tràng hình trứng, chỉ có một môi duy nhất trải rong. các lhuỳ tràng gần sằng nhau hOặc trang dạng 2 môi với 2 lhuỳ dơjới, h0ặc chỉ ba2lezia có sự khác, tràng xếp lợp chứ không van. hat bi ép det, co mau cOng va cimg.
S0 với hệ théng cia E. Ilees (1847) thi hệ théng G. h00ker (1876) có nhiều thay đổi. Tác giả chia lông 71eliieae thành 5 phân tong Ayge0phileae, Eueuellieae, Petalideae, Tzichanthezeae va SteOvilantheae; lông hyge0ohileae chuyên thành phan tong Ayge0phileae va xép va0 tong Tuellieae.
Tong Acantheae va Aphelandezeae dogc tac gia mhap lai thanh tong Acantheae, déi tén lông Gendaeusseae thành Jusiiđeae; lách chỉ Asystasia va một số chỉ khác từ lông 7weliieae đê thành lập phân lông Asys/zsieae xếp và0 lông Jusiideae; thành lập phân tông Eujusiideae lrên cơ sở lách một số chỉ của lông Gendaeusseae và baalezieae; chuyên hai lông Ezanthemeae và lông Didipleseae thành 2 phân lông của Jusiđdeae. Tông Tlels0nieae vẫn sa0 gồm 4 chi Elyfeaeia, [elsOnia, Eveemaieza, Ophidezhiziphyllum. Tac giả vẫn giữ quan diém choja cong whan chi Stau20gyne mà thừa nhận chỉ Ebezrmnaieza với đặc điểm đài xẻ 5 thùòy, nhị 4, cụm h0a bông. Hhụ| vậy, hệ thống của G.
h00ker đơjợc xây dựng lrên œ sở lông hợp những dẫn liệu về đặc điểm hình thái dễ nhận siết, dO đó việc tra cứu và nhận siết các lax0n rất dé dàng. IIg0ài việc quan lâm đến sự có mặt của 10 giá nÖãn, lác giả còn căn cứ và0 nhiều đặc điểm khác. Đáng chú ý là đặc điêm 11 cách sắp xếp của cánh lràng, một đặc điểm khá quan trong lr0ng việc chia nhóm các lax0n họ Acanlhaceae. cũng giống nhơi Ilees trode đó, giới hạn 2 lông Thuneagieae và Iels0nieae ch0 đên nay vẫn đojợc c0i là rất hợp lý.
chính vì vậy mà nhiều lác giả †he0 quan điểm chia thành các phân họ c0i đây là 2 phan ho tojong ung 1a ThunveegiOideae và Ilels0ni0ideae. Tuy hién dO hé théng dojgc x4y dung trén sé long chi nghién ctru chop mhiéu, 120 chi (m6t số chỉ sau này là lên đồng nghia), sO véi sé lojong chi của ho Acanthaceae hién nay đã lên tới 220 nên kết quả †hu đơjợc chơia phản ánh doge day đủ mối quan hệ giữa các lax0n. bên cạnh đó, việc sử dụng thuật ngữ phân lông không đúng luật danh pháp quốc lễ hiện hành, một số phân lông Eueuellieae và Eujusideae đến nay không đơjợc các tic giả khác thừa nhận. Mặc dù có những thiếu sót nêu trên, s0ng hệ thống của G.
h00ker đã tồn lại lr0ng suốt một thời gian dai từ thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20. baill0n (1891) [58] khi nghiên cứu họ Ô rô (Acanlhaceae) lại chia lrực liếp thành các lông rồi đến chỉ mà không chia ra các phân lông. Tác giả đã sắp xếp 136 chi thuộc họ Acanlhaceae lr0ng 6 lông là Thưnoesgieae, IIels0nieae, Tuellieae, Acantheae, beillantaisieae, Juslideae. Về cơ sản, hệ thông này gần giống với hệ thống của G.
h00ker (1876), đều gồm 5 lông Thunveegieae, [lelsOnieae, Tuellieae, Acantheae, Justiceae. Diém khác biệt duy nhất của hệ thống là lác giả đã lách chỉ 5zillanaisia thuộc phân lông hyge0s›hileae đễ thành lập một lông mới là billanfaisieae với đặc điểm tràng 2 môi; nhị 2, sa0 phần 2 ô, sầu mang nhiều n0ãn, vòi nhụy uốn cÔng và cuộn xuống,. Tuy nhiên nhiều lác giả về sau không đồng lình với quan điểm này. Tông /7eis0nieae với đặc điểm vẫn giữ nguyên với quan điểm của hệ thống của G.
Tuy nhiên ở lr0ng hệ thống này 12 tic giả có cập nhật thêm | chi Aieenia S MOOre đojợc công số năm 1879. 13 Tho vay, qua 4 hệ thống đại diện có thể thấy rằng, mỗi hệ thống đều có ounhgjợc điểm khác nhau. Tuy nhiên chỉ S/zuz0gyne vẫn choja đơjợc cÚi là 1 chính thức mà chỉ lồn tại là lên đồng nghĩa của chỉ Esezrmaieza. [hơi vậy, the0 quan điểm hiện nay và the0 luật danh pháp thì không hợp lý.
IIg0ài ra, các hệ thống này còn nhiều hạn chế lhác đã đojợc đề cập ở phía trên, vì vậy cần tim kiếm thêm các hệ thống khác đề s0 sánh. Quan điểm lhứ 2: chỉ Hhụy thập là một chỉ độc lập thuộc quan điểm phân chia thành các phân họ (Sufamily), rồi chia thành các lông (Trikus) va phân lông (Sublribus). Hgơiời đặt nền móng ch0 cách phân chia này phải kê đến G. Lindau (1895) [62] đã chia họ Acanlhaceae thành 4 phân họ căn cứ vàO0 đặc điểm hại đính trên giá nÖãn có móc cỦng.