Đặt vấn đề Việt Nam chúng ta là đất nƣớc có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm quanh năm, là điều kiện tốt cho cây cối sinh trƣởng và phát triển trong đó có rừng. Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý. Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cối, động vật và vi sinh vật.
Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hƣởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài và với cuộc sống của con ngƣời. Trong thực tê' rừng có vai trò hết sức quan trọng về nhiều mặt: Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội, cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cƣ, nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, dƣợc liệu quý phục vụ nhu cá nhân chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con ngƣời, lƣơng thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm. phục vụ nhu cầu đời sống xã hội. Bên cạnh vai trò hết sức quan trọng của rừng là phòng hộ, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, ở đầu nguồn rừng giữ đất, giữ nƣớc, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hỗ đập, giảm thiếu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn đƣợc nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện.
Ở ven biển, chắn sóng, rừng chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nƣớc mặn. bảo vệ đồng ruộng và khu dân cƣ ven biển. Ở khu công nghiệp và khu đô thị, rừng làm sạch không khí, tăng dƣỡng khí, giảm thiểu tiếng ổn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển. Ở đồng ruộng và khu dân cƣ rừng nƣớc, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất.
Rừng bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch… Rừng còn là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm. Một vai trò nữa phái kể đến cùa rừng là về mặt xã hội - Rừng là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan n 2 trọng để phân bổ dân cƣ, điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội. Trong cuộc sống thƣờng ngày: các cây rừng sẽ thải ra dƣỡng khí để phục vụ cho hô hấp của con ngƣời, động vật và sâu bọ trên Trái Đất. Một ha rừng hàng năm tạo nên 16 tấn oxy.
Mỗi ngƣời một năm cần 4.000 kg oxy tƣơng ứng với lƣợng oxy do 1.000m2 cây xanh tạo ra trong một năm. Từ những thông tín trên ta thấy rõ tầm quan trọng của rừng nói chung và rừng Việt Nam nói riêng. Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên, tài nguyên rừng ở Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau nhƣ nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch diễn ra ngày càng nhiều Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH ở Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn và hiện nay cả nƣớc có khoảng 128 khu bảo tồn.
Mặc dù các loài thực vật đƣợc bảo tồn cao nhƣ vậy, nhƣng những nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam hiện nay còn rất thiếu. Do đó tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Gù hương (Cinnamomum balansae H. Lecomte) làm cơ sở bảo tồn và phát triển loài tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đƣợc thực trạng phân bố của cây Gù hƣơng trên địa bàn huyện Đồng Hỷ Xác định đƣợc một số đặc điểm sinh học của loài Gù hƣơng (Cinnamomum balansae H.Lecomte) tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi làm quen đƣợc với công việc nghiên cứu khoa học, bên cạnh đó còn củng cố đƣợc lƣợng kiến thức chuyên môn đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những lý thuyết đã học trong nhà trƣờng đúng theo phƣơng châm học đi đôi với hành. n 3 Nắm đƣợc các phƣơng pháp nghiên cứu, bƣớc đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã đƣợc học trong trƣờng vào công tác nghiên cứu khoa học. Qua quá trình học tập nghiên cứu đề tài tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, tôi đã tích lũy thêm đƣợc nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế.
Đây sẽ là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc sau này. Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên tiếp tục nghiên cứu khoa học chuyên sâu về loài Gù hƣơng. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đó có những điều chỉnh hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ rừng. Làm cơ sở đƣa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây Gù hƣơng.
Góp phần nâng cao tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh cũng nhƣ toàn bộ khu vực miền núi phía bắc. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu * Về cơ sở sinh học Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở khoa học cho việc gây trồng, bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trƣờng… Là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hện giữa con ngƣời và thế giới tự nhiên. * Về cơ sở bảo tồn Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nƣớc.
Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết nhƣ quan hệ giữa bảo tồn loài và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH…vv. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978, Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ (Sách đỏ Việt Nam, 1996) phần II, thực vật. Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (Sách đỏ Việt Nam, 2007) [2]. Phần II thực vật để hƣớng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau: + Bị tuyệt chủng (EX) + Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW) Nhóm các loài nguy cấp đƣợc chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân hạng chính sau: + Cực kì nguy cấp (CR) + Nguy cấp (EN) + Sắp nguy cấp (VU) Nhóm các loài ít nguy cấp: + Ít nguy cấp (LR) Phụ thuộc vào bảo tồn (LR/cd) n 5 Sắp bị đe dọa (LR/nt) Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc) + Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD) + Không đánh giá: Not Evaluated (NE) Để bảo vệ và phát triển các loài động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành (Nghị định số 32/2006/NĐ-CP) [18].
Nghị định quy định các loài động, thực vật quý. Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH thì trong đó Gù hƣơng (Cinnamomum balansae H. Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae) là một loài cây quý, đa tác dụng. Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ và rễ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ.
Đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận. Đối với bất kỳ công tác bảo tồn một loài thực vật nào đó thì việc đi tìm hiểu kỹ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất. Ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, tôi đi tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái học của loài Gù hƣơng, thống kê số lƣợng và đặc điểm sinh thái học và phân bố cây cá lẻ của loài tại địa bàn nghiên cứu. Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2. Các nghiên cứu trên thế giới Theo Lê công Sơn (2003) [10], chi Quế (Cinnamomum) có khoảng 250 loài. Chúng thƣờng là cây gỗ lớn phân bố ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Đại Dƣơng nhƣ Trung Quốc với 50 loài, Malaixia 30 loài, Ấn Độ 30 loài, Đông Dƣơng 12 loài. Chi Bời lời (Litsea Lamk.) có khoảng 400 loài, là cây gỗ hay cây bụi, phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới và nhiệt đới Châu Á, Australia, New Zealand, Bắc Mỹ tới cận nhiệt đới Nam Mỹ, chủ yếu tại các khu vực nóng ấm ở miền Nam hay Tây Namnhƣ Trung Quốc với 75 loài, Malaixia 54 loài, Ấn Độ 65 loài, Đông Dƣơng 17 loài.
Ngƣời đầu tiên nghiên cứu rừng Việt Nam là Loureiro (1793) và công bố trong Thực vật chí Nam Bộ. Tác giả đã mô tả 4 chi và 8 loài trong họ Long não n 6 (Lauraceae). Tiếp đến là Pierre (1880), trong Thực vật rừng Nam Bộ đã giới thiệu các loài cây họ Long não (Lauraceae) có mặt ở Nam Bộ. Gagnepain (1907), trong Thực vật chí Đại cƣơng Đông Dƣơng do H.Lecomte chủ biên đã công bố các loài cây họ Long não (Lauraceae) có ở Đông Dƣơng.Lecomte công bố họ Long não (Lauraceae) ở Đông Dƣơng và Nam Trung Quốc.
Liou công bố các loài thuộc họ Long não (Lauraceae) ở Đông Dƣơng và Nam Trung Quốc. Merrill (1935) đã đƣa ra bản mô tả chi tiết họ Long não (Lauraceae) ở Đông Dƣơng. Ast (1938), đã công bố các loài có mặt ở Đông Dƣơng. Nhƣ vậy, các tác giả ngƣời Pháp đã phân tích, đánh giá họ Long não (Lauraceae) ở các vùng khác nhau tại Đông Dƣơng, trong đó có Việt Nam.
Gù hƣơng là loài cây đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, loài này đƣợc H.Lecomte miêu tả khoa học đầu tiên năm 1913 khi công bố các loài cây thuộc họ Long não (Lauraceae). Gù hƣơng thuộc chi Quế (Cinnamomum.