Đặt vấn đề Ngày nay, ĐDSH là mối quan tâm lớn của thế giới trong đó có Việt Nam. Như chúng ta đã biết Việt Nam là một quốc gia có tính ĐDSH cao và là một trong những điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới. Cuộc sống của con người đang bị đe dọa bởi khí hậu trên trái đất đang thay đổi, nhiệt độ tăng lên, hiệu ứng nhà kính đang làm thay đổi tầng ozôn. Một trong những nguyên nhân là lớp thảm thực vật màu xanh bao phủ trên bề mặt trái đất bị phá hoại ngiêm trọng.
Vì vậy mỗi chúng ta cần phải có trách nhiệm bảo vệ lớp thảm thực vật màu xanh của trái đất, trước tiên là bảo vệ tính đa dạng sinh học của nó. Bởi vì đa dạng sinh học đảm bảo cho chúng ta có thức ăn, có nước uống, có không khí trong lành và sự bình an của cuộc sống. Tuy nhiên tính đa dạng sinh học ngày nay đang chịu tác động của rất nhiều yếu tố trong đó có cả tác dộng tích cực và tiêu cực. Mặt khác, ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới đã và đang suy giảm một cách nhanh chóng.
Trước tình hình đó thế giới cũng có nhiều nỗ lực nhằm hạn chế sự suy giảm đó, cụ thể có nhiều công ước liên quan đến bảo vệ ĐDSH đã ra đời như Công ước RAMSAR, Iran (1971), Công ước CITES (1972), Công ước Paris (1972), Công ước bảo vệ các loài ĐVHD di cư (1979). Song song với việc xây dựng các công ước bảo vệ ĐDSH, Các công trình nghiên cứu khoa học về ĐDSH cũng được công bố. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (KBTL&SCNXL) huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788ha, nằm trong địa giới hành chính của xã Xuân Lạc và chủ yếu là rừng gỗ quý hiếm trên núi đất. Mặc e 2 dù diện tích nhỏ, nhưng KBTL&SCNXL là hành lang quan trọng nối liền Vườn quốc gia Ba Bể với Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Nà Hang.
Hiện trạng rừng ở Khu bảo tồn này còn nguyên khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động bởi con người, còn lưu giữ nhiều loài động động vật quý hiến đang có nguy cơ bị tuyệt trủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như Trai, Nghiến, Đinh, lan hài và thông (Báo cáo đánh gía kết quả hoạt động của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn,2011). Kiểu rừng trên núi đất là hệ sinh thái. Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBTL&SCNXL là một đơn vị địa lý sinh vật vô cùng đa dạng đối với việc bảo vệ môi trường. Nhưng trên thưc tế nơi đây đang chịu tác động bởi sức ép về dân số.
Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại Khu bảo tồn đã được tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm. Từ khi thành lập, KBTL&SCNXL đã có một số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên rừng, bước đầu cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của một khu bảo tồn. Nhưng một số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một cách có hệ thống, đó là đánh giá đa dạng sinh học về các taxon phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn thich hợp. Đặc biệt nơi đây có nguồn thực vật thân gỗ rất đa dạng.
Đứng trước nguy cơ khi mà các thảm thực vật xanh đang dần bị phá hủy chúng ta cần phải có những giải pháp bảo vệ chúng. Vậy để bảo tồn đa dạng sinh học của KBT nói chung và đa dạng thực vật thân gỗ nói riêng chúng ta cần phải đánh giá tính đa dạng và trước tiên là đánh giá các yếu tố tác dộng đến đa dạng thực vật thân gỗ nơi đây. e 3 Để góp phần làm cơ sở cho công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng trên núi đất độ cao trên 800m thuộc KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc”.2 Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng thường xanh trên núi đá dộ cao trên 800m tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật thân gỗ, đặc biệt là các loài quý hiếm tai kiểu rừng này. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong khoa học Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề đặt ra, biết phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong công việc đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học ở nhà trường để đi vào thực tế.
Đề tài nhằm bổ sung những thông tin về đa dạng thực vật thân gỗ và những yếu tố ảnh hưởng đến đa dang thực vật thân gỗ tại khu bảo tồ loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc làm cơ sở cho quản lý và bảo tồn thục vật thân gỗ nói chung và bảo tồn thực vật thân gỗ ở các khu bảo tồn nói riêng.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Các kết quả nghiên cứu và đề xuất của đề tài có thể áp dụng vào việc quản lý và bảo tồn thực vật thân gỗ tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc và các địa bàn có điều kiện tương tự. Tư liệu của luận án góp phần vào công tác quản lý, sử dụng, phát triển bền vững tài nguyên ĐDSH tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Thuật ngữ "đa dạng sinh học" (Biodiversity hay biological diversity) lần đầu tiên được Norse and McManus (1980) [19] giới thiệu, bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật).
Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái [20]. Như vậy đa dạng sinh học là toàn bộ các dạng sống trên trái đất, bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các tổ hợp sinh thái. Đa dạng sinh học thường được thể hiện ở 3 cấp độ: đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái). Vì thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật ngữ ĐDSH thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng loài", hay "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú.
ĐDSH nói chung thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu. Tính đến thời điểm năm 1982, các nhà sinh vật học đã biết được tất cả khoảng 1,4 triệu loài sinh vật, chỉ đạt 5 - 10% tổng số các loài ước tính có trên trái đất [21]. Điều này có nghĩa là đại đa số các loài sinh vật chưa được con người biết đến và đang có nguy tuyệt chủng trước khi chúng ta biết đến vai trò của chúng đối với sự sống. Vùng có ĐDSH phong phú nhất là vùng nhiệt đới, trong khi đó rừng e 5 nhiệt đới (môi trường sống chính của đại đa số sinh vật) đang bị mất đi với tốc độ 11,3 triệu ha/năm (kéo theo từ 20-50% số loài có nguy cơ biến mất).
Các rừng rậm nhiệt đới có hơn một nửa số loài của thế giới, mặc dù chỉ chiếm 7% diện tích đất liền của trái đất. Tuy nhiên mức độ phong phú loài tương đối của quần xã sinh vật rừng nhiệt đới và các kiến thức khoa học về độ phong phú loài của một số bậc phân loại vẫn còn hạn chế. [ 1] Là một HST đặc thù bởi tính đa dạng về loài, rừng gắn liền với việc bảo tồn nguồn gen hay bảo đa dạng các loài, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi hệ thống sinh thái - môi trường do tác động của con người diến ra với tốc độ ngày càng nhanh và phức tạp. Những biến đổi này được gây ra: - Trực tiếp bởi việc thúc đẩy và/hoặc loại bỏ một số loài động, thực vật nhất định của các ngành sản xuất (nông, lâm nghiệp, săn bắn).
- Gián tiếp thông qua sự thay đổi khí hậu, ô nhiểm môi trường, sức ép dân số, độc canh và khai thác trắng, … làm thu hẹp cảnh quan tự nhiên/môi trường sống của các loài. Rừng nguyên sinh có những đặc điểm khác biệt cơ bản về thành phần, cấu trúc và chức năng so với các giai đoạn diễn thế trước đó và thể hiện tiềm năng nguồn gen được chọn lọc và thích ứng cao. Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh ngày càng bị thu hẹp. Do vậy các nghiên cứu về những lâm phần rừng nguyên sinh còn lại trên thế giới cần phải làm rõ các tính chất đặc biệt của chúng.
Rừng nguyên sinh cùng với các loài và chu trình vật chất của nó là một bộ phận cơ bản của ĐDSH đang bị đe doạ trên phạm vi thế giới. Vì vậy, việc bảo tồn hay phục hồi các khu rừng, đặc biệt rừng nguyên sinh là mục tiêu chính của các chương trình bảo vệ. e 6 Mối quan hệ giữa các loài trong tự nhiên là vấn đề rất phức tạp, trong rừng tự nhiên, đặc biệt là trong rừng tự nhiên hỗn loài, sự đa dạng về loài làm phong phú thêm về cơ cấu mạng lưới thức ăn. Một số tác giả sau khi nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, sự phong phú của loài đã làm tăng tính ổn định về mặt sinh thái cho quần xã sinh vật sinh trưởng, phát triển và lúc đó lượng sinh khối trên một đơn vị diện tích là tối đa.
Trước đây, khi nghiên cứu sự phong phú về loài, các nhà khoa học chỉ mới dừng lại ở mức độ định tính, mô tả.