MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú, đa dạng và độc đáo. Dƣới tác động của tự nhiên và của con ngƣời làm cho hệ thực vật luôn luôn biến đổi. Chính vì vậy, cho đến nay, phân loại học thực vật đƣợc coi là một trong những ngành khoa học quan trọng trong sinh học.
Những kết quả đáng tin cậy của phân loại thực vật đã đóng góp vào sự thành công cho nhiều ngành khoa học khác nhƣ sinh thái học, y học, dƣợc học, nông học,… Các kết quả nghiên cứu của phân loại học thực vật còn là cơ sở cho việc đánh giá nguồn tài nguyên thực vật, phục vụ cho công tác quản lí, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật nói chung và thực vật nói riêng. Họ Cà phê (Rubiaceae) với khoảng 13.000 loài (Goevarts et al. 2006), đƣợc phân bố trong 620 chi, hơn 40 tông. Chúng đƣợc tìm thấy ở tất cả các lục địa, kể cả nam cực, với một vài loài của chi Coprosma, Galium, và Sherardia (Goevarts et all.
2006) nhƣng phần lớn phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, theo các tài liệu đã công bố mới nhất về họ Cà phê (Rubiaceae) cho thấy, họ này có khoảng trên 90 chi và khoảng 430 loài, phân bố rộng khắp cả nƣớc (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Tuy nhiên các kết quả này chƣa phản ánh hết tính đa dạng, cũng nhƣ phân bố của họ này ở Việt Nam, cần có những nghiên cứu cụ thể và chi tiết hơn nữa. Để góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về họ này và cung cấp các căn cứ khoa học cho công trình phân loại thực vật và biên soạn thực vật chí họ Cà phê ở Việt Nam sau này, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê (Rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Tập hợp các tƣ liệu khoa học làm cơ sở cho việc nghiên cứu phân loại họ Cà phê ở Việt Nam. Khóa định các chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam. Tìm hiểu đặc điểm dạng sống, hình thái và phân loại của các chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam.
Mô tả sơ bộ về sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của các chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn * Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung và hoàn chỉnh vốn tài liệu về phân loại họ Cà phê (Rubiaceae) nói chung và tông Dành dành (Gardenieae) nói riêng, phục vụ cho các nghiên cứu sâu hơn trên các mặt khác nhau của họ này. * Ý nghĩa thực tiến: Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học phục vụ thiết thực cho các ngành nhƣ Y – Dƣợc, Tài nguyên thực vật, Sinh thái và đa dạng sinh học, Sản xuất lâm nghiệp, Bảo vệ môi trƣờng và Phòng tránh thiên tai,… 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu và hệ thống phân loại họ Cà phê (Rubiaceae) nói chung và tông Dành dành (Gardenieae) nói riêng ở các nƣớc trên thế giới Theo T.
Chen et al. (2011) [23], trên thế giới họ Cà phê (Rubiaceae) là một trong những họ lớn nhất với khoảng 660 chi và số loài trên dƣới 11.150 loài, phân bố rộng khắp trên thế giới, nhƣng chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới của hai bán cầu. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] họ Cà phê có khoảng hơn 90 chi với khoảng 430 loài. Trƣớc khi họ Cà phê đƣợc hình thành thì từ giữa thế kỉ XVIII đã có các nhà thực vật học đặt tên và mô tả các chi và các loài sau này đƣợc xếp và họ Cà phê.
Linnaeus (1753) [30] có thể coi là ngƣời đầu tiên sử dụng tên kép để đặt tên cho loài thực vật. Trong tác phẩm nổi tiếng “Species Plantarum” (1753), tác giả đã đặt tên và mô tả 28 chi với nhiều loài mới sau này đƣợc xếp vào họ Cà phê. - Nhóm 5 nhị với nhụy đơn (Pentrandria monogynia). Sau Linnaeus có một số tác giả nhƣ J.
Loureiro (1790) [32] cũng đã đặt tên và mô tả một số chi và sắp xếp theo kiểu của Linnaeus. Jussieur (1979) [29] đã đặt tên cho họ Cà phê là Rubiaceae đƣợc lấy từ tên chi Rubia L. và từ đó các chi thuộc họ Cà phê đƣợc sắp xếp vào đúng vị trí của nó. Sau khi họ Cà phê đƣợc thiết lập, có rất nhiều công trình nghiên cứu về họ này.
Nhiều chi và loài mới đƣợc các tác giả công bố nhƣ: Schreber (1789) [39] đặt tên và mô tả chi Ourouparia; Loureiro (1790) đặt tên và mô tả chi 4 Aidia, Oxyceros; R. Salisbarg (1807) đặt tên và mô tả chi Adina; W. Roxburgh (1824) [37] mô tả chi Mycetia. Sau này, nhiều loài thuộc chi Nauclea trở thành tên gốc (Basynonym) hay tên đồng nghĩa (Synonym) của các chi Uncaria, Mitragyna, Neonauclea,… Đồng thời với các chi và loài mới đƣợc công bố, có rất nhiều hệ thống phân loại họ Cà phê nói chung và tông Dành dành ra đời.
Ta có thể xem xét một vài hệ thống phân loại chính có đề cập tới tông Dành dành thuộc họ Cà phê. Hooker (1876) [22] có thể coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra một hệ thống phân loại cho họ Cà phê trong đó có tông Dành dành. Theo tác giả, họ Cà phê có khoảng 25 tông (tribus), 337 chi (genus) với khoảng 4. Tác giả đã căn cứ vào số lƣợng noãn trong các ô của bầu nhụy đã chia họ Cà phê thành 3 nhóm : Nhóm A (series A): noãn trong mỗi ô nhiều.
Nhóm B (series B): noãn trong mỗi ô là noãn đôi. Nhóm C (series C): noãn trong mỗi ô là noãn đơn. Nhóm A có 10 tông, tông Gardenieae là tông thứ 10 của họ này. Ở đây tác giả đã nhầm lẫn về mặt danh pháp giữa tông và phân tông.
Tác giả chia tông Dành dành thành 2 phân tông (subtribus): Phân tông 1 – Sarcocephaleae: Có 5 chi. Phân tông 2 - Eugardenieae: Có 30 chi. Schumann (1891) [38] đƣa ra một hệ thống phân loại họ Cà phê gần giống với hệ thống của G. Hệ thống này đƣợc tác giả phân chia thành 2 phân họ (subfamily) là Cinchonoideae và Rubioideae.
Phân họ Cinchonoideae gồm 7 tông, phân họ Rubioideae gồm 11 tông. Theo tác giả, tông Gardenieae đƣợc tác giả xếp vào phân họ Cinchonoideae gồm 15 chi. Phân họ Cinchonoideae bao gồm 2 tông với 8 phân tông, trong đó phân họ Coffeoideae bao gồm 2 tông với 13 phân tông. Nhƣ vậy, theo K.
Schumann thì họ Cà phê có 2 phân họ, 4 tông, 21 phân tông với khoảng 346 chi, trong đó tông Dành dành (Gardenieae) gồm 13 chi. Engler (1903) [24] đã đề xuất một hệ thống phân loại thực vật, trong đó họ Cà phê đƣợc tác giả chia thành hai phân họ Cinchonoideae gồm 8 tông và Coffeoideae gồm 11 tông. Tông Dành dành (Gardineae) đƣợc tác giả xếp vào phân họ Cinchonoideae gồm 2 chi là Randia và Gardenia. Takhtajan (2009) [40] đƣa ra một hệ thống phân loại thực vật hạt kín.
Trong đó họ Cà phê đƣợc tác giả chia làm 3 phân họ Rubioideae, Ixoroideae Cinchonoideae, 41 tông và khoảng trên dƣới 600 chi. Theo tác giả, tông Dành dành đƣợc xếp vào phân họ Ixoroideae bao gồm 70 chi. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu một số hệ thống phân loại của tông Dành dành thuộc họ Cà phê, chúng tôi cho rằng hệ thống của K. Schumann (1891) là một hệ thống khá hoàn chỉnh để nghiên cứu, sắp xếp các vị trí của các chi thuộc tông Dành dành.
Chúng tôi lựa chọn hệ thống của K. Schumann (1891) để nghiên cứu, sắp xếp các chi trong tông Dành dành ở Việt Nam, bởi những lí do sau: - Tác giả đã kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu tông Dành dành của các tác giả trƣớc đó. - Tác giả đã nghiên cứu tất cả các đại diện của tông Dành dành trên toàn thế giới. - Tác giả đã sử dụng phƣơng pháp so sánh hình thái (phƣơng pháp chủ yếu trong phân loại thực vật) để sắp xếp các taxon trong tông Dành dành (Gardenieae).
Một số công trình nghiên cứu họ Cà phê (Rubiaceae) nói chung và tông Dành dành (Gardenieae) nói riêng ở các nƣớc lân cận Việt Nam Ở Đông Nam Á và một số nƣớc lân cận Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về tông Dành dành (Gardenieae) – họ Cà phê (Rubiaceae). How (1956) [27] khi nghiên cứu hệ thực vật Quảng Châu (Trung Quốc), ông đã mô tả 16 chi với 35 loài trong họ Cà phê, trong đó ông đã mô tả đặc điểm của 2 loài thuộc chi Randia và 1 loài thuộc chi Gardenia. Bakhuizen (1965) [21] nghiên cứu hệ thực vật Java (Inđônêxia) “Flora of Java”, trong đó ông đã mô tả dƣới dạng khóa phân loại cho 75 chi của họ Cà phê. Tác giả đã xây dựng khóa định loại của các loài trong mỗi chi trong đó có 5 chi thuộc tông Dành dành.
Về mặt hệ thống học, tác giả theo quan điểm của H. Hooker (1880) [26] nghiên cứu họ Cà phê ở Ấn Độ đã mô tả 91 chi và xếp chúng vào 16 tông. Về mặt hệ thống học, tác giả theo hệ thống của G. Hooker (1876) với 3 nhóm chính, sau đó lại phân chia thành các tông và các chi.
Wong (1989) [42] trong “Tree Flora of Malaya” đã mô tả 5 chi cho gỗ thuộc tông Dành dành trong họ Cà phê là: Brachytome, Diplospora, Fagerlindia, Gardenia, Hypobathrum và Tarenna. (1999) [31] trong “Flora of Reipublicae Popularis Sinicae” khi nghiên cứu họ Cà phê ở Trung Quốc, ông đã mô tả 98 chi với 676 loài đƣợc xếp trong hai phân họ Cinchonoideae và Rubioideae với 18 tông. Tông Dành dành (Gardenieae) gồm 16 chi với 50 loài. Về mặt hệ thống phân loại, tác giả theo quan niệm của K.
Schumann (1891) để phân chia và sắp xếp các taxon họ Cà phê ở Trung Quốc. (2005) [33] nghiên cứu họ Cà phê ở Thái Lan, đã mô tả đặc điểm của 108 chi. Trong đó các tác giả phân ra 2 nhóm: nhóm cây gỗ và cây thân cỏ (nhóm cây trồng). Trong đó tác giả có đề cập đến 10 chi thuộc tông Dành dành bao gồm: Aidia, Brachytome, Dioecrescis, Diplospora, Fagerlindia, Gardenia, Hypobathrum, Kailarsenia, Oxyceros và Tarenna.
Xubing-Qiang, Xianian-he (2009) [34] trong “Flora of Hong Kong” đã mô tả đặc điểm của 35 chi và xây dựng khóa định loại các loài trong mỗi chi trong họ Cà phê. Trong đó các tác giả đã mô tả đặc điểm và xây dựng khóa định loại các loài của 6 chi thuộc tông Dành dành trong họ Cà phê.