Đặt vấn đề Xạ Can còn được gọi là rẻ quạt, có tên khoa học là Belamcanda chinensis (L.) DC thuộc họ Lay ơn (Iridaceae). Cây dạng thân cỏ, sống dai, mọc hoang khắp Việt Nam, được trồng làm thuốc và cảnh. Theo kinh nghiệm dân gian, Xạ Can thường được dùng làm thuốc kháng khuẩn, tiêu viêm, tiêu đờm, chữa ho, ho gà, viêm họng, khản tiếng, viêm amidan, chữa sốt, thống kinh, bí đại tiểu tiện, sưng vú, tắc tia sữa, đau nhức tai, rắn cắn (Đỗ Tất Lợi, 2004; Hoàng Lê Tuấn Anh & cs. Ngoài ra, Xạ Can còn được sử dụng trong y học cổ truyền ở một số quốc gia để chữa sốt, đại tiểu tiện không thông, thông vú tắc tia sữa, bong gân, làm thuốc lọc máu, đau lưng.
(Đỗ Huy Bích & cs. Thân rễ Xạ Can trong y học cổ truyền được dùng làm thuốc thanh nhiệt giải độc, tán kết tiêu viêm, chỉ khái hoá đàm. Trong dân gian, xạ can là cây thuốc quý trị các bệnh như viêm amidan có mủ, ho nhiều đờm, khàn tiếng và còn được trị các bệnh như đại tiểu tiện không thông, tắc tia sữa, đau bụng kinh. Xạ can được dùng trị vết thương như trẹo chân, răn cắn, đắp vết thương và trị đau răng (Đỗ Huy Bích & cs.
Ngoài ra, hai hợp chất tectorigenin và tectoridin, thành phần chính trong thân rễ là đối tượng phù hợp để điều trị các bệnh viêm mũi xoang, viêm tai giữa, viêm họng mạn tính (Thelen & cs. Đánh giá hoạt tính sinh học cho thấy, cặn nước của thân rễ Xạ Can có hoạt tính kháng viêm theo đường uống với mức độ ức chế khối viêm 52,12 - 70%. Tất cả các cặn chiết thân rễ Xạ Can không thể hiện hoạt tính khi thử nghiệm theo đường bôi. Tectorigenin tách chiết từ thân rễ Xạ Can có tác dụng giảm đau rõ rệt nhất ở liều 100 mg/kg cân nặng chuột nhắt.
Với liều 60 mg/kg cân nặng chuột cống, tectorigenin có tác dụng chống viêm cấp và mãn. Độc tính cấp tính của tectorigenin được xác định với giá trị LD50 là 1,78±0,13 g/kg cân nặng. Độc tính bán trường diễn: tectorigenin với các liều thử 100 mg/kg cân nặng và 300 mg/kg cân nặng, cho chuột uống thuốc liên tục 28 ngày 1 không làm ảnh hưởng đến cân nặng, không làm thay đổi chức phận tạo máu và chức năng gan, thận so với lô chứng (Đỗ Thị Thanh Huyền, 2016). Có thể thấy, tác dụng dược tính của cây Xạ Can đã được chứng minh, nên nhu cầu sử dụng cây Xạ Can làm thuốc ngày càng tăng.
Vì vậy, để chủ động trong sản xuất Xạ Can, cung cấp nguồn cây giống chất lượng cho người dân thì cần có những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật nhân giống thích hợp. Thực tế cho thấy, khi sản xuất đại trà quy mô lớn, nhân giống và trồng trọt cây trồng sẽ gặp một số vấn đề như: thời vụ giâm chưa phù hợp, chiều dài cành giâm quá dài hoặc quá ngắn, vị trí hom giâm non dẫn đến hệ số nhân giống thấp; cây sinh trưởng không đồng đều; tỷ lệ cây xuất vườn thấp… Hiện nay, kỹ thuật trồng, nhân giống cây Xạ Can chưa được quan tâm tại Việt Nam. Do đó “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và khả năng nhân giống của một số mẫu giống Xạ Can (Belamcanda chinensis (L). DC) tại Hà Nội” góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho nhân giống Xạ Can tại Việt Nam, qua đó giúp phát triển các vùng chuyên canh loài cây này.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích nghiên cứu Đánh giá đặc điểm hình thái, thời vụ giâm, vị trí giâm, chiều dài đoạn giâm đến khả năng sinh trưởng phát triển của Xạ Can để góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân giống, tuyển chọn giống phù hợp. Yêu cầu nghiên cứu - Đánh giá đặc điểm hình thái của 3 mẫu giống: Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình - Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ giâm đến khả năng nhân giống trong vườn ươm và sinh trưởng phát triển của cây giống khi xuất vườn. - Đánh giá ảnh hưởng của vị trí hom giâm đến khả năng nhân giống trong vườn ươm và sinh trưởng phát triển của cây giống khi xuất vườn.
- Đánh giá ảnh hưởng của chiều dài đoạn giâm đến khả năng nhân giống trong vườn ươm và sinh trưởng phát triển của cây giống khi xuất vườn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm hình thái thực vật học chi Belamcanda 2. Vị trí phân loại của Xạ Can Tên khác: Rẻ quạt, Lưỡi dòng.
Tên khoa học: Belamcanda chinensis (L. Tên đồng nghĩa gồm: Belamcanda punctata Moench. Tên nước ngoài: Dwarf tiger Lily, Leopard Lily, Blackberry Lily (Anh). Theo các khóa phân loại thực vật, Belamcanda chinensis (L.
có vị trí phân loại như sau: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida hoặc Monocotyledons), phân lớp phụ Hành (Liliidae), bộ Hành (Liliales), họ Lay ơn (Iridaceae), chi Belamcanda Adans, loài Belamcanda chinensis (L. Đặc điểm thực vật Cây thảo, sống nhiều năm, cao 0,5 - 1 m. Thân rễ mọc bò, phân nhánh nhiều. Thân ngắn bao bọc bởi những bẹ lá.
Lá hình dải, dài 30 cm, rộng 2 cm, gồ cốp lên nhau, đầu nhọn, gân song song, hai mặt nhẵn, gần như cùng màu; toàn bộ các lá xếp thành một mặt phẳng và xoè ra như cái quạt. Cụm hoa phân nhánh, dài 30 - 40 cm; lá bắc dạng vảy; hoa có cuống dài, xếp trên nhánh như những tán đơn, màu vàng cam điểm những đốm tía; đài có răng nhỏ hình mũi mác; tràng có cánh rộng và dài hơn lá đài; nhị 3, đính ở gốc cánh hoa; bầu 3 ô. Quả nang hình trứng, có 3 van, dài 23 - 25 mm. Hạt xanh đen, hình cầu bóng, đường kính 5 mm.
Mùa hoa quả: tháng 7 - 10 (Viện Dược liệu, 2006). Phân bố Belamcanda là chi đơn loài với 1 loài duy nhất là Belamcanda chinensis (L. Cây được trồng ở nhiều nước như Việt Nam, Ấn Độ, Triều Tiên, phía Nam Nhật Bản, Hàn Quốc, Đông Nam Trung Quốc, Indonesia, Philippin, Thái Lan, Campuchia, Lào. Cây đã được trồng lâu đời ở Ấn Độ và Trung Quốc (Lê Đình Bích & Trần Văn Ơn, 2007).
Đến thế kỷ 17, Xạ can được du nhập sang châu Âu và đến thế kỷ 18 tiếp tục được du nhập vào Bắc Mỹ để trồng làm cảnh (Viện Dược Liệu, 2006). Ở Việt Nam, Xạ Can cũng được trồng để làm cây cảnh và làm thuốc. Ngoài ra cây cũng thường mọc ở các bãi hoang quanh làng hoặc dưới chân núi đá vôi ở các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Quảng Ninh…. Ngoài ra, cây còn được trồng chủ yếu trong các vườn cây thuốc gia đình, các cơ sở y tế hoặc trồng trong các vườn cây cảnh.
Từ năm 1981 - 1986, Xạ can được trồng nhiều ở nông trường dược liệu Đắc Trung (Đắc Lắc), Đồng Nai, Bình Dương…để lấy dược liệu xuất khẩu (Viện Dược liệu, 2006; Võ Văn Chi, 1997). Một số hình ảnh về cây Xạ Can (Belamcanda chinensis) Nguồn: Viện Dược liệu, 2015 4 Hình 2. Một số hình ảnh về cây Xạ Can Thanh Hóa (Belamcanda chinensis) a: Cây Xạ Can giống Thanh Hóa; b: trục hoa; c, e: hoa và cánh hoa; d: thân,lá; f: quả Nguồn: Tác giả, 2022 2. Tác dụng y học của cây Xạ Can 2.
Tác dụng chống viêm Theo Xin & cs. (2015), dịch chiết ethanol Xạ can với liều 8-22g/kg chuột có tác dụng kìm hãm sự tác dụng của viêm lên cả hai giai đoạn sớm và muộn. Ở mức liều 0,32; 0,64 và 1,28g/ kg có tác dụng ức chế sự phù bàn chân ở chuột. Làm giảm đáng kể mức độ phù và giãn mạch ở chuột thực nghiệm với mức liều dùng là 0,46; 0,92 và 1,84g/kg.
Tectorigenin và tectoridin có tác 5 dụng ức chế viêm thông qua ức chế enzym hyaluronidase ở chuột thí nghiệm (Xin & cs. Tác dụng chống ung thư Tectoringenin với IC₅₀ lần lượt là 22,3; 28; 84 và 62,7 µM có tác dụng ức chế sự phát triển của các dòng tế bào HL-60, U-937, HepG2 và SNUC-5. Tectorigenin làm tế bào HL-60 biệt hoá thành bạch cầu hạt và đại thực bào đơn nhân, đồng thời gây ra apoptosis thông qua thay đổi AND tế bào và làm giảm biểu hiện của protein Bcl-2 (protein này gây ức chế quá quá trình apoptosis (quá trình tế bào ung thư tự chết). Tectorigenin cũng ức chế quá trình tự phosphoryl hoá thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF) bởi EGF ở tế bào A431 (Lee cs.
Một số hợp chất khác từ Xạ can như tectoridin, iridin, iristectorigenin, apocynin và tectorusid cũng được chứng minh là có tác dụng điều trị ung thư tiền liệt tuyến (Stettner & cs. Tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm Dịch chiết nước của thân rễ Xạ Can có tác dụng ức chế chủng vi khuẩn Pseudomonas aeuginosa với MIC = 31,25 ̰ 3,9 h/l; MIC = 7.81 g/l và MIC 90 = 15,62 g/l (Lee cs. Irisolidon, tectorigenin và genistein từ Xạ Can có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn Helicobacter pylori. Trong đó, irisolidon thể hiện hoạt tính mạnh nhất với MIC = 12,5 – 25 µg/ml (Bae Han, 2011).
Tectorigenin có hoạt tính kháng khuẩn chống lại Staphylococcus aureus kháng methicillin với MIC = 125 µg/ml (Joung & cs. Ngoài ra hợp chất này còn có tác dụng ức chế sự phát triển của các loài nấm thuộc các chi Trychophyton (MIC = 3,12 - 6,25 µg/ml), Saccharomyces và Candida (MIC = 25 - 50 µg/ml) và có tác dụng ức chế yếu đối với các chủng vi khuẩn Pseudomonas aeuginosa, Proteus vulgaris, Micrococus luteus và Staphylococus aureus (MIC = 50 - 100 µg/ml) (Oh & cs. Mangiferin có tác dụng ức chế 6 các chủng vi khuẩn: Staphylococcus aureus, S. citreus, Escherichia coli, Salmonella agona, Klepsiella pneumoniae và các chủng nấm: Saccharomyces cerevisiae, Thermoascus aurantiacus, Trichoderma reesei, Aspergillus flavus và Aspergillus fumigatus (Stoilova & cs.
Tác dụng bảo vệ gan và chống oxy hoá Dịch chiết methanol của thân rễ Xạ Can có khả năng dọn gốc tự do DPPH với EC₅₀ = 63,4 µg/ml và làm giảm quá trình oxy hoá ion kim loại. Ở nồng độ cao (50-500µg/ml) tác dụng dọn gốc tự do của dịch chiết này xuất hiện sớm sau 5 giây ủ thuốc và phụ thuộc vào nồng độ. Dịch chiết thể hiện tác dụng ở 5µg/ml, tăng mạnh từ nồng độ trên 12µg/ml và đạt mức cao nhất ở nồng độ 500µg/ml ở 40⁰C và 250µg/ml ở 90⁰C. Dịch chiết này còn có tác dụng ức chế quá trình peroxy hoá acid linoleic bởi gốc OH⁻.
Ở nồng độ 500µg/ml, tỉ lệ ức chế trung bình là 77,9%, IC₅₀ = 49 µg/ml. Ngoài ra, dịch chiết methanol Xạ can còn ức chế quá trình đột biến do các tác nhân trực tiếp và gián tiếp ở 2 dòng Salmonella typhimurium TA100 và TA98. Đối với dòng TA98, tỉ lệ ức chế lần lượt là 62,8% và 94,4% tương ứng với tác nhân trực tiếp và gián tiếp. Các giá trị này đối với dòng TA100 là 82,7% và 73,5% (Wozniak cs.