Chương 1. Những vấn đề lý luận về nợ xấu và pháp luật về hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Chương 2. Thực trạng pháp luật về hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam Chương 3. Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.
Sự cần thiết phải thành lập công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng để xử lý nợ xấu Khái niệm nợ xấu của các tổ chức tín dụng Nợ xấu là hiện tượng luôn tồn tại trong hoạt động của các ngân hàng trên thế giới và cũng như ở Việt Nam. Nợ xấu thông thường được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi khách hàng vay tuyên bố phá sản hoặc tẩu tán tài sản. Hiện nay, nợ xấu được định nghĩa như sau: - Theo nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) thì: Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và\hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả đủ từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ [43].
Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ. - Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế.[48] - Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) Nợ xấu được hiểu theo hai khía cạnh sau: Nợ xấu là những khoản vay không có khả năng thu hồi: (i) những khoản nợ hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ; (ii) những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ; (iii) những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ Nợ xấu là những khoản vay có thể không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng Những khoản nợ này không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra thế chấp không đủ trả nợ.
Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ không thể thu hồi đầy đủ toàn bộ khoản vay của khách hàng. Các trường hợp liên quan tới khoản nợ này: (i) những khoản nợ mà khách hàng vay đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán những giá trị còn lại không đủ để thanh toán đầy đủ khoản nợ; (ii) những khoản nợ mà khách hàng vay khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nhưng không thể thanh toán được khoản nợ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong thời gian thỏa thuận gia hạn đó; (iii) những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để thanh toán khoản nợ hoặc tài sản thế chấp này không được chấp thuận dẫn tới khách hàng vay không thể thanh toán được khoản nợ; (iv) những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố khách hàng vay bị phá sản nhưng phải bồi hoàn dư nợ. - Ngân hàng Thế giới đưa ra khái niệm nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Từ các phân tích trên có thể thấy được rằng định nghĩa nợ xấu theo quan điểm này được xác định dựa trên một yếu tố chủ yếu đó là khả năng trả nợ của khách hàng - Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) Trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng thì việc bị coi là nợ xấu khi khoản nợ không còn khả năng hoàn trả nếu một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) Khách hàng vay không có khả năng trả nợ toàn bộ khi TCTD chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) Khách hàng vay có khoản nợ quá hạn 90 ngày trở lên và có dấu hiệu không trả được nợ [45]. Tóm lại, qua các quan điểm, khái niệm trên của các tổ chức, ngân hàng trên thế giới có thể thấy được một khoản nợ được coi là nợ xấu khi: (i) khách hàng vay quá hạn trả nợ và (ii) khách hàng vay không có khả năng trả nợ. Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã làm ăn thua lỗ liên tục, tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và/hoặc gốc thường quá ba tháng, căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm nợ thích hợp.
Đặc điểm nợ xấu của các tổ chức tín dụng Mặc dù có nhiều quan niệm về nợ xấu nhưng hầu hết đều thừa nhận nợ xấu là những khoản nợ khó đòi hoặc mất khả năng thu hồi. Ở mức độ khái quát, những đặc điểm riêng của nợ xấu bao gồm: Thứ nhất, nợ xấu của TCTD phát sinh gắn với hoạt động tín dụng của TCTD và thông thường có giá trị lớn. Hoạt động này được diễn ra dưới hình thức giao dịch giữa hai bên chủ thể, trong đó một bên là các TCTD và một bên là các cá nhân, tổ chức khác. Đây là điểm khác biệt của nợ xấu so với các khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự khác, giữa hai chủ thể là các cá nhân, tổ chức, không có sự tham gia của các TCTD.
Các khoản vay trong trường hợp này thường là những khoản vay có giá trị lớn, được bảo đảm thực hiện bằng tài sản là động sản, bất động sản. Thứ hai, nợ xấu là những khoản nợ dưới chuẩn. Theo quan niệm của nhiều quốc gia trên thế giới đã phân tích ở trên thì một khoản nợ được coi là nợ xấu khi: (i) khách hàng vay quá hạn trả nợ và\hoặc (ii) khách hàng vay không có khả năng trả nợ. Thứ ba, nợ xấu là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ khả năng trả nợ của con nợ như: con nợ trong quá trình kinh doanh thua lỗ dẫn tới nguy cơ phá sản, con nợ bất thường, chậm trễ trong việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo hợp đồng đã thỏa thuận… Nói tóm lại, thời hạn trả nợ cũng như tình trạng của con nợ là hai yếu tố cơ bản để xác định khoản nợ có phải nợ xấu hay không.
Hai yếu tố này cũng cho thấy nợ xấu ngân hàng là những khoản nợ khó có khả năng thu hồi hơn so với các khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự. Vì nợ xấu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông thường có giá trị lớn hơn, khó thu hồi nên việc xử lý nợ xấu không đơn thuần là việc trả lại cả gốc và lãi bằng tiền, tài sản như khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự khác mà phải sử dụng rất nhiều phương thức như cơ cấu lại nợ, mua bán nợ… để thu hồi. Nếu nhìn nợ xấu từ góc độ các TCTD thì nguyên nhân gây ra nợ xấu thuộc về các TCTD do yếu kém trong việc thẩm định dự án và đánh giá khách hàng, yếu kém trong khâu kiểm tra, giám sát, các vấn đề về đạo đức cán bộ…. Ngược lại, nếu nhìn nợ xấu từ góc độ người đi vay thì lỗi gây ra nợ xấu lại thuộc về người đi vay do đầu tư dự án sai, sử dụng vốn không hiệu quả, đầu ra bế tắc…, hoặc nói rộng ra, nếu ta nhìn nợ xấu từ cuộc khủng hoảng thì lỗi lại thuộc về khủng hoảng đã đẩy các TCTD và người vay rơi vào bế tắc do thị trường nước ngoài gặp khủng hoảng, dẫn đến cầu hàng hóa giảm, làm cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp bế tắc, từ đó tạo ra nợ xấu….
Như vậy, nhìn nợ xấu từ bất cứ góc độ nào cũng có thể đổ lỗi được cho đối tượng đó [32]. Xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Hiện nay, có thể thấy mục tiêu cuối cùng của xử lý nợ xấu là để thu hồi được vốn vay. Kinh nghiệm ở hầu hết các quốc gia cho thấy công ty quản lý tài sản thường phải mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng và sau đó tìm cách xử lý khoản nợ này. Như vậy, có thể hiểu xử lý nợ xấu là một công việc thường xuyên và có mục đích chính là thu hồi tối đa số tiền cho vay của các tổ chức tín dụng.
Xử lý nợ xấu là vấn đề phức tạp, có nhiều bên liên quan.