Chương 1. Cải biên văn học điện ảnh trong lịch sử điện ảnh Trung Quốc (36 trang): Đưa ra khái niệm cải biên phù hợp với đề tài nghiên cứu đồng thời trình bày một số tác phẩm cải biên tiêu biểu trong lịch sử điện ảnh Trung Quốc. Hình tượng anh hùng thời Tần Thủy Hoàng trong lịch sử văn học điện ảnh Trung Quốc (31 trang): phân tích hình tượng những anh hùng thời Tần Thủy Hoàng: Kinh Kha và các nhân vật anh hùng hỗ trợ: Phàn Ư Kỳ, Cao Tiệm Ly, Điền Quang. Ứng dụng tư tưởng văn hóa, lịch sử Trung Hoa trong Anh hùng của Trương Nghệ Mưu (29 trang): Nghiên cứu hình tượng Kinh Kha trong bộ phim Anh hùng của Trương Nghệ Mưu từ đó thấy được góc nhìn về khái niệm anh hùng của ông.
CẢI BIÊN VĂN HỌC - ĐIỆN ẢNH TRONG LỊCH SỬ ĐIỆN ẢNH TRUNG QUỐC 1. Sơ lược về khái niệm và lịch sử cải biên văn học - điện ảnh 1. Khái niệm cải biên văn học - điện ảnh Tháng 12 năm 1985, anh em Auguste và Louis Lumière đã thực hiện một buổi trình chiếu có bán vé đầu tiên, với một chuỗi gần 10 đoạn phim ngắn mang tên Workers Leaving the Lumière Factory, tại tầng hầm Grand Café Rus des Capucines, Paris. Sự việc này cùng với sự ra đời của của Cinématographe (máy quay) trước đó, đã đánh dấu cho sự xuất hiện của điện ảnh.
Đến thế kỉ XX, hàng loạt trào lưu điện ảnh xuất hiện: trường phái điện ảnh ấn tượng Pháp (1918 – 1930), Chủ nghĩa biểu hiện Đức (1919-1926), Montage Xô Viết (1924-1935). giúp cho điện ảnh ngày càng phát triển, thúc đẩy khai sinh ra những kỹ thuật làm phim, những cách thể hiện mới lạ. Có thể thấy, văn học là một loại hình nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu, với ngôn từ giàu hình ảnh, sống động và chạm đến tâm hồn của người tiếp nhận. Ví như bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử: Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Không đơn thuần là những ký hiệu, bài thơ thông qua sự tiếp nhận của người đọc đã mang đến một bức tranh xuân đầy tươi sáng: Nắng vàng ửng, khói quê, mái tranh vàng, giàn thiên lý…Thậm chí còn có âm thanh tươi vui của làn gió “trêu” “tà áo biếc”. Tùy vào trí tưởng tượng của từng người tiếp nhận mà bức tranh xuân “chín” xuất hiện khác nhau.
Điện ảnh là một môn nghệ thuật của hình ảnh. Hình ảnh thực tế giúp người xem thấy rõ sự việc, có cái nhìn chân thực nhất giúp họ đưa ra những nhận định hay phán xét. Thông thường, những bộ phim sẽ có một hoặc nhiều hình ảnh các tác động mạnh mẽ đến người xem. Cụ thể như cảnh chia ly của Jack và Rose và sự la 8 hét hoảng loạn của hàng trăm người khi tàu chìm trong bộ phim Titanic (1997) của đạo diễn James Cameron.
Trong quá trình sáng tác kịch bản, tác giả bị chi phối rất nhiều bởi các nguyên lý trong điện ảnh, ngoài ra họ còn phải giải quyết được các vấn đề về nhân vật, cốt truyện, xung đột, chủ đề. Có thể dễ dàng thấy được mối quan hệ hai chiều bổ sung nhau qua lại giữa văn học và điện ảnh. Cải biên văn học - điện ảnh sẽ cho thấy rõ nhất về mối quan hệ này. Từ đó có cái nhìn khách quan, cởi mở hơn giữa phim điện ảnh và tác phẩm văn học nguồn.
Có rất nhiều khái niệm được đưa ra cho thuật ngữ cải biên (Adaptation). Cải biên được xem như “một quá trình cụ thể liên quan tới việc chuyển đổi từ một loại hình nào đó thành thể loại khác:tiểu thuyết thành phim, kịch thành nhạc, kịch hóa văn xuôi tự sự và văn xuôi tiểu thuyết hoặc những chuyển động ngược của việc làm phim thành văn xuôi tự sự” (Đào Lê Na, 2017, tr101). Nghiên cứu của TS. Đào Lê Na chỉ ra rằng cải biên (Adaptation) thực chất là sự thích nghi và sự chiếm dụng.
Trong quá trình cải biên, tác giả tự do đưa vào bộ phim những sáng tạo của mình từ nhân vật đến cốt truyện để thể hiện đến người xem được tư tưởng và sự tiếp nhận của tác giả với tác phẩm nguồn. Trong phim Đèn lồng đỏ treo cao (1991), Trương Nghệ Mưu đã có rất nhiều thay đổi so với tác phẩm nguồn của Tô Đồng. Nếu trong tác phẩm “Thê thiếp thành quần” chiếc đèn lồng chỉ xuất hiện một lần thì trong phim của Trương Nghệ Mưu, đèn lồng đỏ xuất hiện xuyên suốt phim và là biểu tượng cho cuộc đấu đá quyền lực ngầm trong Trần gia. Một sáng tạo nữa của Trương Nghệ Mưu chính là tiếng búa massage chân – biểu tượng cho ngôn ngữ tính dục, nó giữ một vai trò cực kì quan trọng trong phim.
Sự thích nghi và thay đổi linh hoạt của tác phẩm điện ảnh sau cải biên còn được thể hiện khi Trương Nghệ Mưu và đoàn làm phim của mình đã thay đổi kịch bản của Cúc Đậu ở đoạn cuối, Cúc Đậu đốt nhà thành một đám cháy lớn và hôm đó là 6 tháng 4 năm 1989. Trương Nghệ Mưu đã trả lời phỏng vấn sau đó, ông cho biết cảnh cuối này là để thể hiện cảm xúc của cả đoàn làm phim khi trực tiếp chứng kiến sự kiện Thiên An Môn. Có thể thấy quá trình chuyển đổi từ tác phẩm nguồn đến tác phẩm điện ảnh không chỉ đơn thuần là sự sao chép lại bằng một hình thức nghệ thuật khác, mà nó còn là sự sáng tạo của tác giả cải biên. Bùi Trần Quỳnh Ngọc trong bài 9 nghiên cứu Chuyển thể và liên văn bản (Trường hợp tác phẩm Long Thành cầm giả ca) thì khái niệm Chuyển thể có thể có 2 cách hiểu: cách thứ nhất coi tác phẩm như một sản phẩm phụ thuộc vào tác phẩm gốc, là sự sao chép lại tác phẩm gốc bằng một hình thức nghệ thuật khác (Bùi Trần Quỳnh Ngọc, 2017).
Cách thứ hai, coi tác phẩm chuyển thể độc lập với tác phẩm văn học do chuyển thể liên quan đến tái diễn giải, tái sáng tạo. Theo chúng tôi, thuật ngữ cải biên (Adaptation) là việc khai thác, sử dụng những yếu tố cơ bản nhất của tác phẩm nguồn (văn học, âm nhạc, hội họa, văn hóa…) để tái sáng tạo ra một tác phẩm mới. Thuật ngữ cải biên này có nghĩa là chuyển từ cách tiếp nhận này sang cách tiếp nhận khác mang đậm dấu ấn của tác giả cải biên. Như vậy, cải biên cũng là một dạng liên văn bản.
Trong luận văn này, chúng tôi không chỉ nghiên cứu về điện ảnh được cải biên từ tác phẩm văn học, mà còn tìm hiểu về văn hóa, lịch sử Trung Hoa qua các tác phẩm điện ảnh cải biên của Trương Nghệ Mưu, thế nên luận văn sẽ sử dụng thuật ngữ “cải biên” thay vì “chuyển thể”. Lịch sử cải biên điện ảnh dựa trên tác phẩm văn học 1. Thế giới Trong hơn 100 năm phát triển của mình, điện ảnh thế giới đã chứng kiến rất nhiều tác phẩm hay được cải biên. Để nêu ra con số chính xác thì rất khó “Khoảng 75 đến 80 % phim quay ở Hollywood đều là kịch bản cải biên” (John W.Bloch, William Fadiman và Lois Peyser, 1996, tr.
Các phim cải biên không chỉ chiếm phần lớn về số lượng mà chất lượng của các bộ phim này cũng rất cao, điển hình như việc có rất nhiều tác phẩm nằm trong top 100 bộ phim hay nhất ở mọi thời đại do Viện Điện ảnh Hoa Kỳ bình chọn như: Gone with the Wind (1939) của đạo diễn Victor Fleming, The Grapes of Wrath (1940) của đạo diễn John Ford, The Maltese Falcon (1941) của đạo diễn John Huston, From Here to Eternity (1953) của đạo diễn Fred Zinnemann, A Clockwork Orange (1971) của đạo diễn Stanley Kubrick. Ngoài ra còn có một số bộ phim điện ảnh cải biên nổi tiếng: Kiêu hãnh và định kiến (1940), loạt phim Bố già, Điểm tâm ở Tiffany’s (1961), Giết con chim nhại (1962), Chiến tranh và hoà bình (1965), Bay 10 trên tổ chim cúc cu (1975), Bá tước Monte Cristo (1998), Jane Eyre (2011), Gasby vĩ đại (2013)…Tất cả đã khẳng định được giá trị của mình theo thời gian cũng như trong lòng của công chúng. Ngoài sự phát triển của các bộ phim cải biên của điện ảnh phương Tây, điện ảnh Hoa ngữ cũng có những tác phẩm đáng để quan tâm: Tây du ký (1986), Hồng lâu mộng (1987, Tam quốc diễn nghĩa (1994), Thuỷ Hử (1998)… Về sau, sự xuất hiện của nhà văn Kim Dung – cây bút tiểu thuyết kiếm hiệp xuất sắc đã tạo dựng mảnh đất màu mỡ cho các nhà làm phim khai thác như: Thần điêu đại hiệp, Lộc đỉnh ký, Anh hùng xạ điêu, Tiếu ngạo giang hồ, Ỷ thiên đồ long ký… Những năm cuối thế kỉ XX, Trương Nghệ Mưu xuất hiện là một trong những đạo diễn xuất sắc của thế hệ điện ảnh thế 5. Với những bộ phim cải biên như Cao lương đỏ (1987), Cúc Đậu (1990), Thu Cúc đi kiện (1992), Anh hùng (2002)…Ông có khả năng tái sáng tạo những tác phẩm một cách hoàn hảo thông qua nhân vật, cốt truyện, màu sắc, cảnh quay…để truyền tải nhiều thông điệp và hiện thực cuộc sống Trung Quốc, Trương Nghệ Mưu còn được xem là “người làm rạng danh nền điện ảnh Trung Quốc”.
Việt Nam Cũng như điện ảnh thế giới, cải biên điện ảnh từ tác phẩm văn học cũng rất phát triển ở Việt Nam. Điện ảnh được du nhập vào Việt Nam và lúc đó mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh cũng đã bắt đầu. Kim Vân Kiều (1923) là bộ phim đầu tiên của nước ta sản xuất vào những năm 20 của thế kỷ trước như do công ty Chiếu bóng Đông Dương và người Pháp thực hiện cũng được cải biên từ Truyện Kiều nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du, phần lớn kịch bản vẫn giữ hầu hết nguyên tác của Nguyễn Du. Bộ phim cho thấy được mối liên kết giữa văn học và điện ảnh trong buổi ban đầu của nước ta.
Về sau, các nhà làm phim không chỉ tái sáng tạo cốt truyện mà còn thể hiện ở tuyến nhân vật, kết cấu tác phẩm. Sau khi phim Chung một dòng sông (1959) ra đời từ kịch bản Tình không giới tuyến (Cao Đình Báu), đến năm 1960, điện ảnh lại đón nhận bộ phim Vật kỷ niệm được cải biên từ truyện ngắn Vật kỷ niệm của người đã mất (Cường Tráng – Văn Ngữ).