Chương 1: Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến chu kỳ kinh tế - nguyên nhân chính gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô và các phương thức được sử dụng để giảm thiểu thiệt hại từ ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế. Chương 2: Biến động kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016. Chương này nói về bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam trong 6 năm gần đây.
Mô hình tác động của lạm phát và mức độ ổn định của tổng cầu tới hiệu quả của các chính sách ổn định kinh tế. Ở chương này tác giả áp dụng mô hình được phát triển bởi BMR (1988) với số liệu của Việt Nam. Chương 4: Kết luận chung. Tác giả cố gắng đưa ra các kết luận từ mô hình nghiên cứu và một số hàm ý chính sách.
CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHU KÌ KINH TẾ VÀ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Các lý thuyết về chu kì kinh tế (nguyên nhân gây ra chu kì kinh tế – business cycle) Từ những năm 70 của thế kỷ XIX, đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, đặc biệt về vấn đề sự biến động của chu kì kinh tế. Các nhà nghiên cứu kinh tế rất nỗ lực để giải thích các sự biến động này trong ngắn hạn, dựa trên vai trò của các cú sốc cung hoặc cú sốc cầu. Chu kì kinh tế Được định nghĩa là dao động của các hoạt động kinh tế trong nước trong một khoảng thời gian nhất định hay ở Việt Nam chính là sự thay đổi, biến động của giá trị tổng sản phẩm nội địa – GDP.
GDP chính là một trong những thước đo, phản ánh lại các hoạt động kinh tế của một nước. Được tính bằng tổng giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định. GDP thường được các quốc gia đo bằng hai loại giá, một là GDP đo theo giá hiện hành (còn gọi là GDP danh nghĩa) và GDP đo theo giá cố định (hay giá so sánh và còn gọi là GDP thực tế), sự khác nhau giữa các loại GDP này nằm ở giá cả. Ngoài ra, một số quốc gia tiên tiến hiện còn đưa thêm một dạng thước đo nữa vào thống kê GDP là thước đo chain – weighted GDP.
Một chu kì kinh tế có hai thời kì chính, đó là suy thoái nền kinh tế và mở rộng nền kinh tế. Nguyên nhân chính của sự biến động này là do các cú sốc nội sinh cũng như ngoại sinh. Các nhà kinh tế thường đo lường một chu kì kinh tế bằng cách nghiên cứu sự biến động tăng trưởng của GDP thực tế quay quanh xu hướng dài hạn của nó. Nếu nền kinh tế không xảy ra các cú sốc có lợi hoặc các cú sốc bất lợi, có thể như cú sốc xăng dầu, cú sốc tài chính, cú sốc hàng hóa, các tiến bộ trong công nghệ, thảm họa môi trường, thiên tai… làm nền kinh tế tăng trưởng có thể ở mức cao hơn hoặc mức thấp hơn so với xu hướng dài hạn thì 6 tăng trưởng kinh tế sẽ đi trùng với đường tăng trưởng dài hạn.
Có nhiều phương pháp thống kê được các nhà kinh tế học dùng trong việc chỉ ra đường tăng trưởng dài hạn, trong đó có một phương pháp khá phổ biến là phương pháp lọc Hodrick-Prescott, hoặc có thể thực hiện phương pháp hồi quy phi tuyến tinh theo xu hướng thời gian.1 thể hiện chu kì kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2016, đường tăng trưởng dài hạn được bóc tách dựa trên phương pháp lọc Hodrick-prescott. 9 8 7 6 5 4 3 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 TREND_GROWTH ACTUAL_GROWTH Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của GSO.1: Chu kì kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2016. Theo lý thuyết, khi tốc độ tăng trưởng thực tế (actual growth) nằm ở trên đường tăng trưởng dài hạn (trend growth) thì đó chính là thời kì mở rộng, trong thời kì mở rộng, nền kinh tế sẽ phát triển, thể hiện đầu tiên ở mức GDP thực tế tăng, điều này cũng sẽ được chỉ ra bằng sự gia tăng của các chỉ số như việc làm, giá trị sản xuất công nghiệp, giao thương và thu nhập cá nhân. Ngược lại thì được gọi là thời kì suy thoái, trong thời kì suy thoái, nền kinh tế sẽ bị thu hẹp lại, thể hiện bằng sự suy giảm GDP, và cũng được thể hiện bằng việc các chỉ số trên 7 giảm xuống.
Ở tại một số quốc gia, có một số quy định đối với suy thoái kinh tế là khi GDP thực có tốc độ tăng trưởng nhỏ hơn 0 (không) trong nửa năm liên tục hay hai quý, thì quốc gia mới được tính là trong thời kì suy thoái kinh tế. Những biến động tăng lên và giảm xuống của đường tăng trưởng kinh tế xoay quanh đường tăng trưởng dài hạn được các nhà kinh tế gọi là những biến động trong ngắn hạn. Các thời kì của một chu kì kinh tế được liên tục lặp lại, khi nền kinh tế mở rộng đến một mức độ nào đó, sẽ xảy ra suy thoái kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống, điểm giao này được gọi là đỉnh của chu kì kinh tế. Và khi kết thúc thời kì suy thoái kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế cùng các chỉ số đo lường sẽ đổi chiều và tăng lên, GDP sẽ tăng và sẽ đạt giá trị cao hơn so với thời điểm trước khi xảy ra suy thoái kinh tế, điểm giao này gọi là đáy của chu kì kinh tế.
Các điểm đỉnh và đáy của chu kì kinh tế thường có thể dễ dàng nhận ra ở các điểm giao từ thời kì này sang thời kì khác với dấu hiệu là sự thay đổi dấu của tốc động tăng trưởng GDP thực tế. Các nhà kinh tế học luôn muốn tìm ra được cách nhận diện các dấu hiệu, biểu hiện của thời kì suy thoái kinh tế trước khi nó xảy ra, hạn chế tối thiểu các tác động xấu đến nền kinh tế vĩ mô, xã hội. Có thể chỉ ra một số đặc điểm chung và dễ nhận thấy của suy thoái như: cầu hàng hóa giảm, tiêu dùng trong nước chậm, dòng luân chuyển sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất, thương mại bị gián đoạn làm tăng sản phẩm lưu kho tại các doanh nghiệp. Điều này khiến cho các doanh nghiệp sản xuất phải thắt chặt chi tiêu, giảm đầu tư phát triển và cắt giảm sản xuất.
Tất cả khiến cho tổng cung kinh tế vĩ mô đi xuống và tương ứng là sụt giảm GDP thực tế. Điều này ảnh hưởng tiếp đến thị trường lao động, nhu cầu sử dụng lao động giảm xuống. Đối với các lao động trong lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là các lao động thời vụ thì số ngày đi làm sẽ thấp đi, sau đó sẽ là các đợt cắt giảm nhân sự của doanh nghiệp và số người thất nghiệp sẽ ngày càng nhiều thêm. Giá cả thị trường sẽ ít có sự thay đổi, lạm phát chậm tăng lên, nguyên nhân đến từ giá cả đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất giảm xuống bởi suy giảm tổng cầu.
8 Riêng giá cả khu vực dịch vụ khó có thể giảm được nhưng cũng sẽ không tăng cao trong thời kì này. Doanh thu sụt giảm và cả lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng giảm theo khiến các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán dè dặt hơn trước, họ cảm nhận được thời kì suy thoái kinh tế đang đến gần. Nền kinh tế đang ở đằng sau của đỉnh chu kì, nhu cầu về vốn cũng thấp hơn so với trước làm lãi suất giảm. Các dấu hiệu trên sẽ mang thay đổi theo hướng ngược lại khi nền kinh tế ở chu kì mở rộng.
Trước đây, vào năm 1860, nhà kinh tế học người Pháp tên là Clement Juglar là người đầu tiên chỉ ra rằng, một chu kì kinh tế kéo dài từ 07 đến 11 năm và sẽ có sự thay đổi nếu có ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế vĩ mô khác. Và một thời gian ngắn sau đó, nhà kinh tế Joseph Schumpeter cũng đã đưa ra các lập luận rằng, một chu kì kinh tế bao gồm bốn giai đoạn: mở rộng (expansion), khủng hoảng (crisis), suy thoái (recession) và phục hồi (recovery). Tuy nhiên, ở nền kinh tế ngày nay cùng với các quan điểm kinh tế học hiện đại, có quan điểm rằng giai đoạn khủng hoảng là khi toàn bộ nền kinh tế gần như đóng băng, thất nghiệp ở mọi nơi và không kiểm soát được, các doanh nghiệp sản xuất lớn nhỏ đóng cửa hàng loại… trở nên khó xảy ra hơn, nhờ những biện pháp quản lý, can thiệp của chính phủ nhằm tối thiểu hóa hậu quả. Các biện pháp quản lý, can thiệp, các chính sách mà chính phủ hay ngân hàng trung ương sử dụng trong kinh tế vĩ mô để làm giảm đi các hậu quả của suy thoái kinh tế hay làm giảm đi sự biến động của đường tăng trưởng thực tế quanh đường tăng trưởng dài hạn, được gọi là các chính sách bình ổn.
Ảnh hưởng của chu kì kinh tế Được tạo nên bởi những biến động không có quy luật, chưa có các chu kì kinh tế nào mà hoàn toàn trùng lặp hoặc có những biến động như nhau, điều này khiến cho chu kì kinh tế rất khó để dự báo. Hiện nay vẫn chưa có công thức xác định hay một phương pháp dự báo nào có thể đưa ra được các phán đoán chính xác về thời gian, phương hướng xảy ra các biến động của chu kì kinh tế. Việc ở 9 trong thế bị động đối với các biến động này, khiến cho hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế vĩ mô, ở cả khu vực tư và khu vực công đều gặp nhiều khó khăn, hạn chế, nhất là khi nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái. Lúc này, khi nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái, tổng sản lượng sản xuất trong nước sẽ sụt giảm nhanh chóng, nhiều người không có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp trên cả nước tăng lên, tất cả các thị trường từ thị trường hàng hóa, bất động sản, dịch vụ… cho đến thị trường vốn, ngoại tệ… đều thu hẹp lại.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế vĩ mô, xã hội theo chiều hướng xấu. Nguyên nhân và biện pháp đối phó với chu kì kinh tế Chu kì kinh tế luôn là vấn đề hàng đầu của các nhà quản lý kinh tế, dù ở khu vực công hay khu vực tư nhân thì việc chu kì kinh tế luôn gây ra những khó khăn trong công tác xây dựng, triển khai kế hoạch kinh doanh.