Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát TH 0.23 0 Ghi chú: KR: Hàn Quốc; PH: Philipin; SG: Singapore; TH: Thái Lan; TW: Đài Loan; HK: HongKong; JP: Nhật Bản; GE: Đức; USD: Mỹ. Tiếp đến vào tháng 7/2006, hai tác giả người Nhật Takatoshi Ito và Kiyotaka Sata thực hiện nghiên cứu “Exchange rate changes and inflation in post-crisis Asian economies: VAR analysis of the exchange rate pass-through” tại 5 nước bao gồm Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia. Cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan, sau đó lan rộng đến các quốc gia khác, nguyên nhân xảy ra khủng hoảng tiền tệ của mỗi nước là khác nhau vì thế quá trình hồi phục cũng không giống nhau về cách thức giải quyết khủng hoảng, mức độ khủng hoảng và thời gian khủng hoảng. Kết quả cho thấy Indonesia là quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất với việc đồng rupiah của Indonesia đã mất 1/6 giá trị so với trước khủng hoảng và sự hồi phục tỷ giá diễn ra chậm chạp, dòng vốn chảy ra khỏi thị trường,…Sự bất ổn về kinh tế đã dẫn đến sự bất ổn về chính trị với sự ra đi của Tổng thống Suharto.
Chi tiết kết quả nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát từng nước cho thấy Indonesia là nước có chỉ số giá tiêu dùng phản ứng lớn nhất đối với sự thay đổi tỷ giá. Tại Hàn Quốc và Thái Lan, chỉ số giá tiêu dùng cũng phản ứng dương đối với sự thay đổi tỷ giá nhưng với mức độ nhỏ hơn của Indonesia. Còn phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng Malaysia, Sinagpore đối với sự thay đổi tỷ giá là nhỏ và không có ý nghĩa thống kê. Điểm đáng chú ý khi tìm hiểu lý do có sự khác biệt về độ lớn của hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát tại các nước Đông Á, đó là ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mà chính phủ các nước thực hiện trong thời trong và sau khủng hoảng.
Tại các nước có độ lớn hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát nhỏ như Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, chính phủ sử dụng các chính sách tiền tệ thận trọng; tỷ giá, các cú sốc giá dầu, cung tiền đóng vai trò rất nhỏ trong sự thay đổi chỉ số giá tiêu dùng. Nói cách khác, chỉ số 15 Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát giá tiêu dùng của những quốc gia này chỉ phụ thuộc các cú sốc giá hàng hóa trong nước.Riêng Indonesia, trong khi giá cả hàng hóa khá nhạy cảm với chính sách tiền tệ thì chính phủ lại thực hiện chính sách tiền tệ tăng mạnh cung tiền. Vào giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng, các ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản, dẫn đến ngân hàng trung ương Indonesia chọn cách đưa tiền vào trong lưu thông nhằm cứu hệ thống ngân hàng khỏi sự sụp đổ, cung tiền M2 tăng lên, hậu quả là lạm phát tăng. Có thể nói, chính sách tiền tệ là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát của Indonesia cao hơn 4 nước còn lại.
Quan sát chi tiết kết quả hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến tại Singapore theo các nghiên cứu của Michele Ca’Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007),Takatoshi Ito & Kiyotaka Sata (7/2006)và Sasaki (2005) dường như tại quốc gia này hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát (cụ thể là chỉ số giá tiêu dùng) rất thấp so với kết quả các nước mới nổi khác. Sau kết quả bất thường đó, một bài nghiên cứu riêng về hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến chu kỳ kinh doanh của Singapore từ quý 3 năm 1980 đến quý 3 năm 2010 được thực hiện bởi các tác giả Joey Chew, Sam Ouliaris and Siang Meng Tan (2011). Bài viết kết luận rằng sự thay đổi trong tỷ giá được phản ánh rất nhanh chóng đến giá nhập khẩu trong nước của Singapore, hiệu ứng truyền dẫn đạt đến hoàn hảo sau 6 quý.Tuy nhiên, hiệu ứng từ giá nhập khẩu trong nước đến chỉ số giá tiêu dùng giảm nhanh. Do đó, hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá của Singapore là thấp, tương tự như hiệu ứng tại các quốc gia phát triển.3 Tại Việt Nam Tại Việt Nam, những nghiên cứu định lượng về lạm phát đã được tác giả Võ Văn Minh (2009), Nguyễn Thị Thu Hằng & Nguyễn Đức Thành (2010); Tran Mai Anh & Nguyen Đinh Mai Anh (2010) thực hiện tập trung vào các tác nhân: giá dầu, tỷ giá, sản lượng, cung tiền, lãi suất, CPI, giá nhập khẩu, thâm hụt ngân sách, biến tài sản…tác động đến lạm phát trong nước giai đoạn từ 2001-2010.
Các kết quả cho thấy hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam là không lớn. Theo kết quả bài viết “Exchange rate pass-through and its implications for inflation in Vietnam” của Võ Văn Minh (4-2009). 16 Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát Bảng 7: Hệ số truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam Thời kỳ IMP CPI Thời kỳ IMP CPI 1 -0.05 Giải thích cho kết quả nghiên cứu của mình, tác giả Võ Văn Minh cho rằng mức độ hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá Việt Nam ở mức trung bình. Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng (hệ số truyền dẫn trung bình là 0.08) thấp hơn nhiều so với hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá nhập khẩu (hệ số truyền dẫn trung bình là 0.61) do ảnh hưởng của sự thay đổi giảm dần qua mỗi giai đoạn của chuỗi phân phối.
Ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá đến giá nhập khẩu rõ nét trong năm đầu tiên sau cú sốc, nếu tháng đầu tiên có kết quả âm 0.37, tháng thứ hai dương 0.77 và sụt xuống 0.1 trong tháng cuối quý 1. Sang quý 2 và quý 3, hiệu ứng vượt mức hoàn hảo (hệ số lớn hơn 1).Đến quý 4, hệ số giảm dần và kết thúc ở 0.21 trong tháng 12.Và ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá đến giá nhập khẩu biến mất sau 15 tháng. Kết quả hệ số của hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng âm liên tục trong 4 tháng đầu tiên, sau đó hệ số này dao động trong khoảng 0.21 trong các tháng còn lại của năm đầu tiên. Và tương tự như trên, ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng sẽ không còn sau 15 tháng.
17 Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát Tác giả kết luận rằng hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát của Việt Nam là không hoàn hảo. Trong một nghiên cứu khác về hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát của Việt Nam gần đây, sức ì lạm phát cũng đã được tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng& Nguyễn Đức Thịnh đề cập trong “Nguồn gốc lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010”. Bài nghiên cứu này cho rằng lạm phát Việt Nam rất nhạy cảm do ảnh hưởng của ký ức về lạm phát trong quá khứ, sự nhạy cảm về kỳ vọng lạm phát. Các tác giả chỉ ra rằng lạm phát Việt Nam có nguyên nhân chủ yếu từ nội địa.
Anh hưởng của thâm hụt ngân sách đối với lạm phát cũng được các tác giả đưa vào, đây là một điểm mới, và kết quả là không cho thấy tác động rõ ràng của thâm hụt ngân sách đối với lạm phát. Thế nhưng, vì sao Việt Nam với đặc điểm nền kinh tế tăng trưởng nhanh kèm với lạm phát cao; tỷ trọng nhập khẩu trên GDP cao; đồng nội tệ đã và đang bị phá giá liên tục trong những năm gần đây…lại có hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá thấp, điều này dường như trái với các kết luận nghiên cứu trên thế giới. Có phải xuất phát từ nguyên nhân năng lực cạnh tranh của nền kinh tế kém? KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đạt mức hoàn hảo theo Lý thuyết Ngang giá sức mua, khi tỷ giá thay đổi 1% sẽ dẫn đến sự thay đổi của chỉ số giá cả là 1%.Trên phạm vi quốc gia, hiệu ứng truyền dẫn tỷ giáphụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co dãn tương đối của cầu và cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô. Trên phạm vi ngành, hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá phụ thuộc vào chiến lược định giá của công ty, cơ cấu ngành, quota đối với nhập khẩu, kiểm soát của nước ngoài,… Bằng chứng thực nghiệm hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá các nước trên thế giới chỉ ra rằng hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá phần lớn là không hoàn hảo.Hiệu ứng truyền dẫn ở các nước đang phát triển lớn hơn nhiều so với các nước phát triển, nguyên nhân là do độ lớn và mức độ cạnh tranh của nền kinh tế.
Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá lạm phát tại Việt Nam được cho là ở mức độ trung bình trong đó hệ số truyền dẫn từ tỷ giá sang lạm phát chỉ số giá nhập khẩu cao hơn so với chỉ số giá tiêu dùng. Mô hình tự hồi quy vectơ thường được sử dụng để đo lường hệ số truyền dẫn trong các bài nghiên cứu, chi tiết về mô hình sẽ được mô tả trong chương tiếp theo của bài luận. 18 Chương 2 – Phương pháp nghiên cứu, mô hình tự hồi quy vectơ và nội dung các kiểm định thực hiện khi nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH TỰ HỒI QUY VECTƠ VÀ NỘI DUNG CÁC KIỂM ĐỊNH ĐƯỢC THỰC HIỆN KHI NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ Chương 1 đã khái quát một số quan điểm, nhận định về hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá và bằng chứng thực nghiệm hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá tại các nước.Đây là cơ sở cho việc nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam. Trước khi đi vào thực hiện nghiên cứu, chương này sẽ cung cấp một số khái niệm về các vấn đề sau: Phương pháp nghiên cứu Đặc điểm các chuỗi thời gian được chọn là biến nghiên cứu của mô hình Nội dung các kiểm định được thực hiện trong nghiên cứu 2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT Hiệu ứng truyền dẫn từ tỷ giá sang lạm phát sử dụng phương pháp Mô hình tự hồi quy vectơ VAR với các biến quan sát đã được đề cập.
Phương pháp này đã được McCarthy (1999) đề xuất khi nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn của biến động tỷ giá và giá nhập khẩu đến lạm phát trong nước (bài nghiên cứu “Pass-Through Exchange rate and Import prices in Domestic Inflation in Some Industrialized Economies”), sử dụng một mô hình định giá dọc theo một dây chuyền phân phối.