Chương 1 : Giới thiệu tổng quan về đề tài “Mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán Việt Nam. Chương 2 : Cơ sở lý thuyết về giá chứng khoán và cung tiền. Chương 3 : Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4 : Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5 : Kết luận và kiến nghị 4 Chương 2 CƠ S Ở LÝ T H U Y Ế T V Ề GIÁ CH ỨNG K H O Á N VÀ C U N G TIỀN Trong chương này tác giả giới thiệu tổng quan về thị trường chứng khoán, giới thiệu các chỉ số chứng khoán Việt Nam: VN-Index và HNX-Index, cung tiền, mối quan hệ của cung tiền và thị trường chứng khoán. Tiếp đến là xem xét các nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề nghiên cứu.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 2.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán Theo Bùi Kim Yến (2013): “Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế truyền dẫn vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung dài hạn cho nền kinh tế”.
Còn theo Luật chứng khoán (2006) của Việt Nam định nghĩa: “ Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để thực hiện lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán”. Như vậy, thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. Thị trường chứng khoán còn là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp.
Do vậy, thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi.2 Chức năng của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán có những chức năng cơ bản sau: Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế; Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng; Cung cấp khả 5 năng thanh toán cho các chứng khoán; Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế; Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô.2 Giới thiệu các chỉ số chứng khoán: VN-Index và HNX-Index 2.1 Chỉ số VN-Index Theo SGDCK TP. HCM (2000) chỉ số VN-Index thể hiện xu hướng biến động giá các cổ phiếu giao dịch tại SGDCK TP. Chỉ số VN-Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở vào ngày gốc 28/07/2000, ngày đầu tiên thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động. Công thức tính: VN-Index được Ủy ban chứng khoán nhà nước tính toán theo phương pháp chỉ số giá bình quân.
YT' " V VN-Mex = 1 xioo £ ? = 1 P i „ x Qio Trong đó: P;t : Giá thị trường của cổ phiếu i vào thời điểm t; Qt Số lượng niêm yết của cổ phiếu i vào thời điểm t; Pio Giá thị trường của cổ phiếu i vào ngày gốc; Qio Số lượng niêm yết của cổ phiếu i vào ngày gốc; i 1 ,. Biến động của chỉ số VN-Index: Hình 2.1 Biến động của chỉ số VN-Index từ 01/2001 đến 12/2013 Nguồn: Trích từ kết quả vẽ đồ thị bằng Eviews 6 2.2 Chỉ số HNX-Index Theo SGDCK HN (2005) chỉ số HNX-Index (trước đây là chỉ số Hastc- Index) được tính toán và công bố bắt đầu từ ngày chính thức mở cửa phiên giao dịch đầu tiên của thị trường (ngày 14/7/2005), được gọi là thời điểm gốc. Chỉ số này tính toán mức biến động giá của tất cả các cổ phiếu giao dịch trên SGDCK Hà Nội. Phương pháp tính chỉ số bằng cách so sánh tổng giá trị thị trường hiện tại với tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết tại thời điểm gốc.
Cụ thể: tại thời điểm gốc, chỉ số có giá trị = 100. Công thức tính: cũng giống như VN-Index, HNX-Index được Ủy ban chứng khoán nhà nước tính toán theo phương pháp chỉ số giá bình quân. HN-Index — Trong đó: Pit : Giá thị trường của cổ phiếu i vào thời điểm hiện tại; Qit : Số lượng niêm yết của cổ phiếu i vào thời điểm hiện tại; Pio : Giá thị trường của cổ phiếu i vào ngày cơ sở (gốc); i : 1,. Biến động của HNX-Index: Hình 2.2: Biến động của HNX-Index từ 01/2006 đến 12/2013 500 ------------------------------------------------------------------------------------- 400 300 200 100 0 Nguồn: Trích từ kết quả vẽ đồ thị bằng Eviews 7 2.3 Cung tiền, mối quan hệ giữa cung tiền và thị trường chứng khoán 2.1 Cung tiền Theo Begg và các cộng sự (2005), Cung tiền là cách gọi tắt của cung ứng tiền tệ, chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản,.
Cũng theo Theo Begg và các cộng sự (2005), các quy mô cung tiền: - M0 = Tổng lượng tiền mặt do NHTW phát hành đang lưu thông. M0 còn được gọi là tiền cơ sở, tiền hẹp, tiền có thể chi tiêu ngay lập tức. - M 1 = M0 + tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương. M 1 còn được gọi là đồng tiền mạnh.
- M2 = M 1 + chuẩn tệ (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ h ạ n. tại các tổ chức tín dụng). M 2 còn được gọi là tiền rộng hay tiền gửi tiết kiệm không thể tiêu ngay được. - M3 = M2 + tất cả các khoản tiết kiệm khác gửi tại các tổ chức tín dụng (trái phiếu quốc gia, tín p h iế u ,.
- M4 (ở Anh) = M0 + tiền trong tài khoản các loại. - Tính thanh khoản theo nghĩa rộng = M3 + các trái phiếu + các khoản đầu tư tín thác. Công thức tính lượng cung tiền M c + D m = — = ———— H c + R Trong đó: m : là số nhân tiền tệ; M : là tổng lượng cung tiền H : là lượng tiền cơ sở; C : là lượng tiền mặt D : là lượng tiền gửi; R : là lượng tiền mà các ngân hàng thương mại phải dự trữ và để trong tài khoản của họ tại ngân hàng trung ương. 8 Biến động của cung tiền: 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 Nguồn: Trích từ kết quả vẽ đồ thị bằng Eviews 2.2 M ối quan hệ giữa cung tiền và thị trường chứng khoán Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Thái Sơn (2014), cung tiền và thị trường chứng khoán có mối quan hệ cùng chiều nhau: Khi nới lỏng cung tiền để kích thích tăng trưởng kinh tế thì thị trường chứng khoán tăng trưởng, và ngược lại khi thắt chặt cung tiền để hạ nhiệt tăng trưởng kinh tế thì thị trường chứng khoán sẽ sụt giảm.
Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013), cho rằng quan hệ cơ bản giữa lượng cung tiền và thị trường chứng khoán rõ ràng là cùng chiều được thể hiện thông qua chính sách tiền tệ. - Chính sách tiền tệ mở rộng: Nếu lượng cung tiền mở rộng sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong tiêu dùng hàng hóa cũng như làm gia tăng việc sử dụng các tài sản tài chính mà chứng khoán là một trong số đó. Khi lượng cung tiền tăng, thanh khoản vượt trội sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán khá mạnh do tác động của chính sách tiền tệ tương đối nhanh và trực tiếp. Chính sách mở rộng tiền tệ làm giảm lãi suất của nền kinh tế, làm giảm 9 lãi suất chiết khấu của chứng khoán qua đó làm tăng giá kỳ vọng và tăng thu nhập (nguồn: Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013)).
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: Lãi suất cao hơn do ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chắt thường có tác động xấu cho thị trường chứng khoán. Lý do: thứ nhất, làm giảm giá của chứng khoán do làm tăng lãi suất chiết khấu trong mô hình định giá; thứ hai, làm cho các chứng khoán thu nhập cố định trở thành một loại lựa chọn hấp dẫn hơn làm giảm thanh khoản vào cổ phiếu; thứ ba, làm giảm xu hướng vay mượn để đầu tư vào chứng khoán; và cuối cùng, làm tăng chi phí vận hành doanh nghiệp do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận công. Nghiên cứu của Friedman và Schwartz (1963), đưa ra lời giải thích đầu tiên về mối quan hệ giữa lượng cung tiền và thu nhập chứng khoán, theo đó một sự gia tăng trong cung tiền sẽ làm gia tăng thanh khoản và tín dụng cho nhà đầu tư cổ phiếu dẫn đến giá các chứng khoán cao hơn. Jiranyakul (2009), Mukherjee và Naka (1995), Kwon và Shin (1999), Sellin (2001) cũng cho thấy rằng một cú sốc cung tiền tích cực sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong giá cổ phiếu.
Họ cho rằng một sự thay đổi trong cung tiền sẽ cung cấp thông tin cho nhu cầu về tiền. Nếu cung tiền tăng, có nghĩa là nhu cầu về tiền tệ tăng, dẫn đến tín hiệu tăng cho các hoạt động kinh tế. Hoạt động kinh tế càng cao có nghĩa là dòng tiền càng cao, dẫn đến giá chứng khoán cũng tăng, nghĩa là cung tiền tăng sẽ dẫn đến sự tăng trưởng và phát triển ổn định hơn cho thị trường chứng khoán. Như vậy, ta thấy mối quan hệ của cung tiền và thị trường chứng khoán là mối quan hệ cùng chiều nhau.4 Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ của cung tiền và thị trường chứng khoán.
Việc tìm hiểu các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu sẽ giúp ta thấy rõ hơn biến cung tiền tác động như thế nào đến chỉ số chứng khoán trong thực tiễn. Và cũng giúp tìm hiểu các phương pháp kiểm định đã được sử dụng trong nghiên cứu này, từ đó có cở sở rút ra kết luận của nghiên cứu. Mối quan hệ 10 của cung tiền và thị trường chứng khoán đã từng được nghiên cứu rất nhiều trước đây: - Maskay (2007) cũng đã thực hiện phân tích sự ảnh hưởng của các thay đổi trong cung tiền lên giá chứng khoán. Ông cũng nghiên cứu về việc “Có hay không có tồn tại mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán?”.
Ông sử dụng một mô hình hồi quy hai giai đoạn với khá nhiều biến như là cung tiền (M2), chỉ số chứng khoán S&P 500, tỷ lệ thất nghiệp. Và ông đã đi đến kết luận rằng tác động dương của cung tiền sẽ làm tăng giá chứng khoán và ngược lại.