CHƯƠNG 1 TÒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu LIÊN QUAN ĐẾN ĐÊ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về chế định ủy ban thường vụ Quốc hội ở Việt Nam Có thể khẳng định rằng, từ Hiến pháp 1959 khi chế định UBTVQH chính thức được xác lập cho đến nay, chế định này hầu như chưa được nghiên cứu một cách độc lập và hệ thống trong khoa học tố chức nhà nước và khoa học pháp lý ở Việt Nam. Có khá nhiều công trình khoa học có đề cập đến chế định UBTVQH, nhưng chủ yếu được thực hiện trong khuôn khổ nghiên cứu về Quốc hội và tổ chức quyền lực nhà nước.
Trong số đó, đáng lưu ý có các công trình sau: Trần Ngọc Đường, “Xây dựng mô hình tô chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân" [12]: Đe tài nghiên cứu nội dung rộng, bao gồm cơ sở lý luận của việc đồi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong NNPQ XHCN Việt Nam; đánh giá thực trạng và đưa ra các yêu cầu cũng như xây dụng mô hình Quốc hội, Chính phủ đến năm 2010 và các năm tiếp theo. Trong Phần I, Chương 2 (lý luận), Đe tài dành một phần nghiên cứu vị trí và chỉ ra thuộc tính đại diện của Quốc hội, vai trò đại diện Quốc hội trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị và tổ chức quyền lực nhà nước trong NNPQ XHCN Việt Nam; vị trí, chức năng, vai trò của UBTVQH trong điều kiện khuôn khổ cùa một Quốc hội không chuyên nghiệp, không thường xuyên ở Việt Nam. Ngô Đức Mạnh, “Cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trỏ, nhiệm vụ, 8 quyên hạn của Quôc hội trong bộ máy nhà nước và hệ thông chính trị Việt Nam (qua bốn bản Hiến pháp)" [29]: Đề tài khảo sát cụ thể, logic về quá trình hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam qua bốn bản Hiến pháp. Trong phần lý luận, đề tài có một sổ phân tích khái quát về vai trò, chức năng, vị trí của UBTVQH, trên cơ sở đó tập trung phân tích làm rõ các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và ƯBTVQH.
Cuốn “A/ổ hình tô chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả Đào Trí úc [52], tập trung vào nghiên cửu tổ chức và hoạt động của nhà nước Việt Nam, trong đó khẳng định Quốc hội có một vai trò, vị trí quan trọng trong BMNN. Tuy không phân tích sâu về UBTVQH, công trình nêu ra nhận định là để Quốc hội hoạt động hiệu quả trong NNPQ XHCN, cần phải đảm bảo tính chất đại diện của Quốc hội theo hình thức thường xuyên, chuyên nghiệp. Đây là việc làm cấp thiết và quan trọng, là điều kiện để thực thi quyền lực Nhân dân qua hình thức dân chủ gián tiếp. Cách tiếp cận này gợi mở những đổi mới về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBTVQH.
Cuốn "Chức năng đại diện của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền" của VPQH [69] đã tập hợp 11 bài viết của các tác giả trong và ngoài nước tham gia hội thảo cùng tên năm 2007. Một số bài viết gián tiếp thảo luận về quan điểm về sự ũy quyền của nhân dân cho UBTVQH theo Hiến pháp để bảo đảm cho Quốc hội thực hiện đầy đủ các quyền hạn và trách nhiệm của mình. Đây là một trong nhiều góc nhìn về tính đại diện Quốc hội ở Việt Nam và về mô hình UBTVQH của Việt Nam trong điều kiện Quốc hội hoạt động không chuyên nghiệp, không thường xuyên. Cuốn "Tô chức và hoạt động của Nghị viện một sổ nước trên thế giói" của Nguyễn Sĩ Dũng [75] tập trung nghiên cứu chuyên sâu về Nghị viện các 9 nước trên thế giới, tập trung vào chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức, quy trình thủ tục hoạt động và bộ máy giúp việc Nghị viện.
Liên quan đến chủ đề nghiên cứu cùa Luận án, cuốn sách này cho thấy mô hình cơ quan thường trực của Nghị viện không tồn tại trong các hệ thống Nghị viện hoạt động chuyên nghiệp, thường xuyên. Luận án Phó Tiến sĩ Luật học: “£)oz mới tô chức và hoạt động của các cơ quan đại diện ở nước ta hiện nay" của Chu Văn Thành [45] tập trung nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan đại diện (trung ương và địa phương) ở nước ta trong giai đoạn 1946 - 1992. Luận án khắng định dân chủ đại diện là phương thức chủ yếu và quan trọng đề thực hiện dân chủ XHCN ở Việt Nam. Luận án xác định việc đồi mới cơ quan đại diện (Quốc hội) hiện nay là bước quá độ nhằm chuyển Quốc hội sang hoạt động thường xuyên.
Điều đó được thể hiện qua việc đổi mới UBTVQH và các cơ quan khác của Quốc hội theo hướng hoạt động thường xuyên và kéo dài thời gian làm việc mỗi kỳ họp của Quốc hội. Nhóm bài viết về Quốc hội và UBTVQH ở Việt Nam đăng trên các tạp chí như: "Quốc hội Việt Nam - những vấn đề chuyên sang Nghị viện" của Nguyễn Cảnh Hợp [22, tr. 15-17]; "Bàn về tính đại diện nhãn dân của Quốc hội" của Nguyễn Quang Minh [32, tr. 69-78]; "Đê mãi mãi xứng đáng là cơ quan đại biêu cao nhất của nhân dân" của Nguyễn Văn An [1]; "Các mô hình Quốc hội" của Nguyễn Đăng Dung [4, tr.
25-34]; ‘‘Phát huy vai trò đại diện nhãn dân của đại biêu Quốc hội trong hoạt động lập pháp" cùa Trần Ngọc Đường [13, tr. 7-9]; "Tiêu chí và yếu tố bảo đảm hiệu quả tính đại diện của Quốc hội" của Vũ Văn Nhiêm [33, tr. 22-31]; "Dãn chủ đại diện và vấn đề bầu cừ’' của Trần Nho Thìn [47, tr. 23-25]; ‘‘Một vài kiến nghị về pháp lệnh của ủy ban thường vụ Quốc hội hiện nay" của Đoàn Thị Bạch Liên [24, tr.
Những công trình này cũng đề cập một cách khái quát đến vị trí, vai 10 trò, chức năng, hoạt động của UBTVQH trong bối cảnh đồi mới Quốc hội, xây dựng NNPQ nhằm hướng đến việc bảo đảm Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và nâng cao tính chuyên nghiệp của Quốc hội. Đặc biệt, đã có một số nghiên cứu riêng về chế định UBTVQH hoặc một số khía cạnh, vấn đề về chế định UBTVQH ở Việt Nam, tiêu biểu trong số đó có thể kể như sau: Mai Thị Mai, “Những vẩn đề đặt ra đổi với hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong một Quốc hội chuyên nghiệp" [28, tr. 20-25]: Đây là một trong những bài báo hiếm hoi phân tích trực tiếp những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động của UBTVQH trong bối cảnh xây dựng Quốc hội chuyên nghiệp. Theo bài viết, việc tồn tại UBTVQH ở Việt Nam từ xưa đen nay là do Quốc hội không hoạt động thường xuyên, nên phải thành lập một cơ quan mang tính chất thường trực cho Quốc hội.
về nguồn gốc, sự tồn tại của thiết chế này là sự học tập khía cạnh lý luận của mô hình Liên bang Cộng hoà XHCN Xô-viết, trong đó UBTVQH được trao nhiều quyền hạn, hoạt động với tư cách vừa là cơ quan giúp việc của Quốc hội, vừa là một cơ quan độc lập. Trần Ngọc Đường, "Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam" [15, tr. 3-7]: bài viết cho rằng trong cơ chế phân công quyền lực nhà nước ở nước ta, theo Hiến pháp năm 2013, vẫn tiếp tục quy định chỉ UBTVQH có thẩm quyền giải thích chính thức Hiến pháp, luật, pháp lệnh là không hợp lý, bởi theo kinh nghiệm của các nước dân chủ, pháp quyền thì Toà án tối cao là cơ quan chính thức giải thích Hiến pháp, luật. Đồng thời, việc giãi thích Hiến pháp gắn liền với việc bảo vệ Hiến pháp, vì thế cần phải giao việc giâi thích Hiến pháp cho một cơ quan bảo hiến chuyên trách.
Báo cáo nghiên cứu "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động chất vấn tại phiên họp ủy ban thường vụ Quốc hội" [72]: Báo cáo đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội, bao gồm: 11 về quyền chất vấn của ĐBQH; vai trò của UBTVQH đối với hoạt động chất vấn của ĐBQH; mục đích, ý nghĩa của hoạt động chất vấn tại phiên họp của UBTVQH. Báo cáo cho rằng nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động chất vấn tại phiên họp của UBTVQH cho thấy về cơ bán, việc UBTVQH tổ chức hoạt động này là phù hợp với những nguyên lý cơ bản và điều kiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội nuớc ta, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về việc tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH. Tóm lại, có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH trên một số khía cạnh cụ thể, nhưng còn sơ sài và thiếu tính hệ thống. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vần là những tư liệu tham khào có giá trị cho luận án.
Các công trình nghiên cứu về thực trạng chế định ủy ban thường vụ Quốc hội ở Việt Nam Cũng như các nghiên cứu về lý luận, các nghiên cứu về thực trạng chế định UBTVQH chủ yếu lồng ghép trong những nghiên cứu chung về thực trạng Quốc hội. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Bài viết của Lê Minh Thông (2001), “Những bước đôi mới Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam và vấn đề tăng cường tô chức, hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay" [48, tr. 32-40] đã nhấn mạnh, sự hội nhập quốc tế và các vấn đề toàn cầu hoá đòi hỏi Quốc hội phải thường xuyên xử lý hàng loạt vấn đề của đất nước trong quá trình hợp tác quốc tế, cũng như các vấn đề họp tác của Quốc hội với Nghị viện các nước và tổ chức quốc tế, mà vốn là các thiết chế quyền lực hoạt động thường xuyên. Tính chất thường xuyên của Quốc hội, nếu được thực hiện tất yếu sẽ kéo theo nhu cầu phải cơ cấu lại quan hệ giữa Quốc hội, UBTVQH và các Uỷ ban của Quốc hội.
Bời lẽ, một khi Quốc hội chuyển sang chế độ hoạt động thường xuyên thì tính chất thường 12 trực của UBTVQH cần phải được nghiên cứu lại theo hướng giảm dần sự uỷ quyền của Quốc hội cho UBTVQH trong một số lĩnh vực hoạt động.