CHƯƠNG 1: CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về TiO2 1. Cấu trúc và pha tinh thể của TiO2 TiO2 là chất bán dẫn tồn tại ở 3 dạng cơ bản sau: Rutile, Anatase và Brookite [17] Rutile: là trạng thái tinh thể bền của TiO2, pha rutile có mức năng lượng miền cấm là 3,02 eV. Rutile là pha có độ xếp chặt cao nhất so với 2 pha còn lại, khối lượng riêng 4,2 g/cm3.
Rutile có kiểu mạng Bravais tứ phương với các hình bát diện xếp tiếp xúc nhau ở các đỉnh (Hình 1.1: Cấu trúc tinh thể pha Rutile (a), Anatase (b) và Brookite (c) [44] Anatase: là pha có hoạt tính quang hoá mạnh nhất trong 3 pha. Anatase có năng lượng miền cấm là 3.23 eV và khối lượng riêng 3. Anatase cũng có kiểu mạng Bravais tứ phương như rutile nhưng các hình bát diện xếp tiếp xúc cạnh với nhau và trục của tinh thể bị kéo dài (Hình 1. TiO2 dạng anatase có thể chuyển hoá thành TiO2 dạng rutile ở các điều kiện nhiệt độ phản ứng thích hợp.
Tuy nhiên, có thể chuyển hoá TiO2 dạng anatase sang dạng rutile trong khoảng nhiệt độ từ 400-1000oC; tuỳ thuộc vào điều kiện và thiết bị phản ứng. Brookite: có hoạt tính quang hoá rất yếu. Brookite có mức năng lượng miền cấm là 3.4 eV, khối lượng riêng 4. Trong thực tế, pha tinh thể brookite của TiO2 rất ít gặp nên thường ít được đề cập trong các nghiên cứu và ứng dụng.
Tính chất vật lý của TiO2 TiO2 là chất rắn màu trắng, khi đun nóng có màu vàng, khi làm lạnh thì trở lại màu trắng. Tinh thể TiO2 có độ cứng cao, khó nóng chảy (nhiệt độ nóng chảy là 1870oC). Rutile có tỉ khối cao nhất và cấu trúc đặc khít nhất, có độ cứng Mohs 6. Tính chất hoá học của TiO2 TiO2 ở dạng có kích thước micromet rất bền về hoá học, không tan trong các acid.
Tuy nhiên, khi đưa TiO2 về dạng kích thước nanomet, TiO2 có thể tham gia một số phản ứng với axit và kiềm mạnh. Các dạng oxide, hydroxide và các hợp chất của Ti(IV) đều có tính lưỡng tính. Một số tính chất vật lý của TiO2 dạng anatase và rutile [18] TT Tính chất vật lý Anatase Rutile 1 Cấu trúc tinh thể Tứ phương Tứ phương 2 Nhiệt độ nóng chảy (0C) 1800 1850 3 Khối lượng riêng (g/cm3) 3,84 4,20 4 Độ cứng Mohs 5,5-6,0 6,0-7,0 5 Chỉ số khúc xạ 2,54 2,75 6 Hằng số điện môi 31 114 7 Nhiệt dung riêng (cal/mol.0C) 12,96 13,2 8 Mức năng lượng vùng cấm (eV) 3,25 3,05 TiO2 có một số tính chất ưu việt thích hợp dùng làm chất xúc tác quang: Hấp thụ ánh sáng trong vùng tử ngoại, cho ánh sáng trong vùng hồng ngoại và khả kiến truyền qua. Là vật liệu có độ xốp cao vì vậy tăng cường khả năng xúc tác bề mặt.
Ái lực bề mặt TiO2 đối với các phân tử rất cao do đó dễ dàng phủ lớp TiO2 lên các loại đế với độ bám dính rất tốt. 8 Luan van Giá thành thấp, dễ sản xuất với số lượng lớn, trơ hoá học, không độc, thân thiện với môi trường và có khả năng tương hợp sinh học cao. Degussa P25 được điều chế bằng phương pháp thuỷ phân TiCl4 trong ngọn lửa ở nhiệt độ cao (hơn 1200oC) với sự có mặt của hydro và oxy. P25 có độ tinh khiết >99,5% với tỉ lệ thành phần pha anatase: rulite = 75:25, có diện tích bề mặt riêng cỡ 50±15 m2/g với đường kích hạt trung bình 21 nm, trong đó 95% số hạt có kích thước trong khoảng 9-38nm, tuy nhiên cần chú ý rằng 90% các hạt không tồn tại rời rạc mà tập hợp thành những tổ hợp với kích thước trung bình khoảng 0,1 µm [20, 21].
Hoạt tính cao của Degussa P25 được cho là do tiềm năng của vùng dẫn trong pha rutile so với pha anatase. Điều này cho phép những electron quang sinh chuyển từ pha anatase sang rutile ngăn cản quá trình tái hợp trong anatase. Hoạt tính thấp của rutile có thể là kết quả của sản phẩm khử của oxy. Quá trình xúc tác quang hoá trên TiO2 TiO2 (dạng anatase) có độ rộng năng lượng vùng cấm Eg = 3,2 eV nên có thể hấp thụ được bức xạ tử ngoại gần (<387,5 nm).
Thế oxy hoá khử của VB và CB của TiO2 tương ứng là +3,1V và -0,1V. Quá trình quang xúc tác của TiO2 được mô tả trong hình 1. Cụ thể: Khi được chiếu sáng bởi các bức xạ có năng lượng bằng hoặc lớn hơn năng lượng vùng cấm (tương ứng với bức xạ UVA có bước sóng < 387,5 nm), TiO2 sẽ hấp thụ các photon (h) và khi đó các điện tử e- trong vùng hoá trị sẽ được kích thích nhảy lên vùng dẫn, để lại một lỗ trống h+ có điện tích dương trong vùng hoá trị (Hình 1. Khi xuất hiện các lỗ trống quang sinh mang điện tích dương sẽ di chuyển ra bề mặt của hạt xúc tác, nếu trong môi trường nước sẽ xảy ra những phản ứng tạo gốc tự do ●OH trên bề mặt chất xúc tác theo phương trình phản ứng (hình 1.
Mặt khác, khi xuất hiện electron quang sinh trên vùng dẫn, các electron quang sinh này cũng di chuyển ra bề mặt chất xúc tác. Nếu có mặt O2 hấp phụ trên bề mặt chất xúc 9 Luan van tác, các phản ứng sẽ xảy ra khử tạo gốc ion superoxit (●O2-) trên bề mặt và tiếp sau sẽ xảy ra phản ứng với nước tạo gốc ●OH (hình 1. Ion OH- lại có thể tác dụng với lỗ trống quang sinh trên vùng hoá trị để tạo ra gốc tự do ●OH theo phản ứng (1. Mặt khác, các electron quang sinh trên vùng dẫn có xu hướng tái kết hợp với các lỗ trống quang sinh trên vùng hoá trị, kèm theo việc giải phóng nhiệt hoặc ánh sáng.
Chính quá trình này đã làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu TiO2.2: Cơ chế quang xúc tác trên chất bán dẫn TiO2 (a) Bức xạ UV kích thích các electron từ vùng hóa trị nhảy lên vùng dẫn, tạo lỗ trống quang sinh trên vùng hóa trị (h+VB) và electron quang sinh trên vùng dẫn (e-CB); h 3,2 eV TiO2 eCB hVB (1.1) (b) Di chuyển electron quang sinh (e-CB) ra bề mặt hạt xúc tác; (c) Di chuyển lỗ trống quang sinh (h+VB) ra bề mặt hạt xúc tác; (d) Tái kết hợp electron quang sinh (e-CB) và lỗ trống quang sinh (h+VB), xảy ra bên trong hạt xúc tác; (e) Tái kết hợp electron quang sinh (e-CB) và lỗ trống quang sinh (h+VB), xảy ra trên bề mặt hạt xúc tác; 10 Luan van (f) Quá trình tạo gốc ●OH nhờ các lỗ quang sinh (h+VB) di chuyển ra bề mặt tác dụng với H2Ovà OH-; ● h+VB + H2 O OH + H+ (1.2) h+VB + OH- OH (1.5) ● H2O2 + e-CB OH + OH- (1. Các phương pháp điều chế vật liệu TiO2 1. Phương pháp sol-gel Quá trình sol-gel là quá trình chế tạo vật liệu oxide kim loại từ dung dịch, thông qua các phản ứng thuỷ phân– ngưng tụ muối vô cơ kim loại hoặc tiền chất alkoxide kim loại. Phương pháp sol-gel ngày càng được ưa chuộng nhờ khả năng tổng hợp dễ dàng, trang thiết bị đơn giản, độ đồng đều và độ tinh khiết khá tốt, chế tạo được màng mỏng và tạo được hạt có kích cỡ nano khá đồng đều.
Quá trình sol-gel gồm 5 giai đoạn sau: (1) Tạo hệ sol; (2) Gel hoá (gelation); (3) Định hình (aging); (4) Sấy (drying); (5) Kết khối (sintering). (1) Tạo hệ sol Trong giai đoạn tạo sol alkoxide kim loại sẽ bị thuỷ phân và ngưng tụ, tạo hệ sol gồm những hạt oxide kim loại nhỏ (hạt sol) phân tán trong dung môi. Hai quá trình quan trọng là thuỷ phân và ngưng tụ sẽ quyết định tính chất và cấu trúc gel cũng như cấu trúc màng trong các giai đoạn sau. (2) Gel hoá (gelation) Giữa các hạt sol bắt đầu có sự hình thành liên kết thông qua phản ứng ngưng tụ.
Quá trình liên kết của các hạt sol tiếp tục sẽ dẫn tới việc hình thành các cluster trong dung dịch. Các cluster này tiếp tục phát triển kích thước cho đến khi giữa chúng có sự tiếp xúc và hình thành các liên kết ngang (cross-link), tạo thành mạng lưới hydroxide 11 Luan van kim loại 3 chiều trong khắp thể tích dung dịch, làm độ nhớt dung dịch tăng lên đột ngột. Đây chính là quá trình gel hoá. Khoảng thời gian từ lúc chấm dứt phản ứng thuỷ phân đến khi gel hình thành được gọi là thời gian gel hoá (gelation time).
Gel là mạng khung hydroxide kim loại (M-O-M) xốp chứa đầy dung môi. Các lỗ xốp trong cấu trúc gel tạo thành các kênh lỗ xốp liên tục. Mạng khung có dạng sợi nếu kích thước hạt sol nhỏ và có dạng hạt nếu hạt sol có kích thước lớn. Liên kết ngang trong gel tiếp tục được củng cố trong quá trình định hình (aging).
Sự co ngót sẽ xuất hiện khi dung môi bay ra khỏi các lỗ xốp trong cấu trúc gel. (3) Giai đoạn định hình (aging) Trong giai đoạn này liên kết trong gel được củng cố và làm cho gel đồng đều hơn. Liên kết hạt – hạt được củng cố thông qua quá trình hoà tan – ngưng tụ tại bề mặt hạt và cổ tiếp xúc. Hơn nữa, nếu dung môi quá nhiều và polymer có kích thước lớn, hiện tượng lấn chiếm Ostwald xảy ra làm số lượng hạt giảm và kích thước hạt tăng.
Hiện tượng lấn chiếm Ostwald và ngưng tụ tại cổ tiếp xúc hạt – hạt xảy ra do sự chênh lệch độ hoà tan vật chất theo độ cong của bề mặt hạt. Bề mặt polymer hay hạt có bán kính cong càng nhỏ sẽ có hoá thế μ càng cao. Trong dung dịch, hoá thế tương ứng với độ hoà tan. Ngược lại, khi bề mặt lõm, độ hoà tan là âm, tương ứng với sự ngưng tụ (Hình 1.
Khi hiện tượng lấn chiếm Ostwald xảy ra, các hạt nhỏ trong dung dịch do có bán kính nhỏ nên có độ hoà tan tại bề mặt lớn hơn độ hoà tan tại bề mặt của các hạt lớn. Lúc đó vật chất sẽ khuếch tán ngược gradient nồng độ này và lắng đọng trên bề mặt các hạt có kích thước lớn hơn. Các hạt nhỏ sẽ bị hoà tan dần còn các hạt lớn lại tăng kích thước. Quá trình tiếp tục xảy ra làm số lượng hạt giảm và kích thước hạt tăng cho đến khi các hạt trong dung dịch không có sự chênh lệch về kích thước.
R3<0 Ngưng tụ R1>0 R2>R1>0 Độ tan 1 lớn Độ tan 2< Độ tan 1 Hình 1. Sự phụ thuộc độ hoà tan vào độ cong. 12 Luan van Hình 1.Hiện tượng lấn chiếm Ostwald. Hiện tượng ngưng tụ tại cổ tiếp xúc được mô tả trong hình 1.