MỞ ĐẦU Hiện nay thế giới đang đứng trước thực trạng ô nhiễm môi trường luôn gia tăng, biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, các vật liệu polymer có khả năng phân hủy kém vẫn đang được sản xuất rộng rãi để phục vụ nhu cầu của con người như túi nylon; đồ dùng sinh hoạt bằng nhựa PP, PVC, PE…Do đó nhiều quốc gia trên thế giới đã chọn kinh tế xanh làm mô hình phát triển mới. Ngành công nghiệp sản xuất chế biến cao su thiên nhiên đang mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tổng sản lượng cao su thiên nhiên sản xuất đạt 11,4 triệu tấn tăng 3,97% so với năm 2011. Tiêu thụ cao su thiên nhiên toàn cầu năm 2012 đạt 10,9 triệu tấn, tăng 0,23% so với năm 2011.
Năng suất đạt khoảng 1,1 tấn/ha. Theo thống kê của hiệp hội các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) và tập đoàn CN cao su Việt Nam (VRG), năm 2012 sản lượng khai thác của Việt Nam đạt 863.600 tấn xếp hạng thứ 5 thế giới. Đồng thời Việt Nam xếp hạng thứ 4 thế giới về sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên (1,02 triệu tấn năm 2012) và đứng thứ 2 thế giới về năng suất khai thác cao su. Năm 2012, năng suất bình quân cả nước đạt mức 1,71 tấn/ha [1], đứng sau Ấn Độ (1,82 tấn/ha), vượt xa so với bình quân toàn cầu là 1,1 tấn /ha[1].
Tuy nhiên cao su là hợp chất polymer rất khó bị phân hủy do vậy nếu sản xuất nhiều sẽ dẫn tới tình trạng ô nhiễm cao. Hiện nay các biện pháp xử lý cao su chủ yếu gồm: chôn lấp, đốt, cải tạo tái chế. Tuy nhiên cả hai hướng xử lý chôn lấp và đốt đều gặp phải về các yếu tố kỹ thuật như gây ô nhiễm thứ cấp gây ra bởi các sản phẩm hay tốn năng lượng nhiều, tốn chi phí cho việc thu gom và vận chuyển. Hướng xử lý tiếp theo là cải tạo tái chế để quay trở lại làm chất độn trong cao su hiện nay đang được sử dụng rộng rãi tuy nhiên hiệu quả chưa cao và về lâu dài vẫn gây ô nhiễm môi trường.
Do vậy, một hướng xử lý khác đưa ra giải quyết là blend với polymer phân hủy sinh học được coi là hữu ích khi tạo ra được vật liệu mới có khả năng phân hủy tốt hơn, cải thiện các tính chất cơ học kém như cứng, giòn của polymer phân hủy sinh học tạo ra vật liệu xanh, sạch[2]. Đây là hướng đi cần thiết hướng đến sự phát triển bền vững toàn cầu. Vì vậy tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: 12 Học viên: Trần Mạnh Thắng KH&KTVLPK-12B Nghiên cứu tổng hợp vật liệu polymer biến tính trên nền mủ cao su thiên nhiên của Việt Nam “ Nghiên cứu tổng hợp vật liệu polymer biến tính trên nền mủ cao su thiên nhiên của Việt Nam” Trong đề tài này, các vấn đề cần giải quyết bao gồm: 1. Loại bỏ protein trong cao su.
Epoxy hóa cao su. Trộn hợp polymer biến tính trên nền mủ cao su sạch. Đánh giá các tính chất của vật liệu đã tổng hợp. 13 Học viên: Trần Mạnh Thắng KH&KTVLPK-12B Nghiên cứu tổng hợp vật liệu polymer biến tính trên nền mủ cao su thiên nhiên của Việt Nam CHƯƠNG1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về cao su thiên nhiên 1.1 Lịch sử cây cao su 1.1 Giới thiệu về cây cao su Cao su (danh pháp khoa học: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Đại kích (Euphorbiaceae) có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea.
Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chảy ra từ nhựa cây của nó (gọi là mủ-latex) được thu nhận lại là nguồn chính trong sản xuất cao su tự nhiên[6].1: Cây cao su (Hevea brasiliensis) Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các đường rạch mủ ở vỏ cây. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng. Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch mủ: cắt vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây và nhựa mủ được thu lại vào các thùng nhỏ; quá trình này gọi là cạo mủ cao su.
Các cây già thường cho nhiều mủ hơn các cây non tuy nhiên chúng sẽ không tiết ra mủ khi cây có độ tuổi từ 26-30 năm[6].2 Lịch sử cây cao su trên Thế giới Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas đã biết lấy nhựa của cây cao su dùng để tẩm vào quần áo 14 Học viên: Trần Mạnh Thắng KH&KTVLPK-12B Nghiên cứu tổng hợp vật liệu polymer biến tính trên nền mủ cao su thiên nhiên của Việt Nam chống ẩm ướt và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ, uchouk là chảy ra hay khóc)[6]. Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ ngành công nghiệp cao su, làm giàu cho các thành phố Manaus và Belsem thuộc Brasil.
Người ta đã cố gắng thử nghiệm trồng cao su ngoài phạm vi Brasil bắt đầu vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew. Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng nhưng chúng đã không sống được. Cố gắng thứ hai sau đó đã được thực hiện khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875.
Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi tới Ceylon và 22 cây đã được gửi tới các vườn thực vật tại Singapore. Sau đó cây cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh. Các cây cao su đã có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883. Vào năm 1898, một đồn điền trồng cao su đã được thành lập tại Malaya và ngày nay chủ yếu các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực Châu Phi nhiệt đới[6].3 Lịch sử cây cao su tại Việt Nam Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống.
Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam. Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (cách Nha Trang 20 km). Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907.
Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH, SPTR, CEXO, Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập[6]. 15 Học viên: Trần Mạnh Thắng KH&KTVLPK-12B Nghiên cứu tổng hợp vật liệu polymer biến tính trên nền mủ cao su thiên nhiên của Việt Nam Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng khoảng 3. Cây cao su được trồng thử tại Tây Nguyên vào năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó không trồng nữa vì chiến tranh. Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ).
Trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6. Hiện nay, cây cao su đã được trồng tại khu vực miền núi phía Bắc và Lai Châu được xem là thủ phủ của cây cao su ở khu vực này. Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3. Sau năm 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ.
Từ năm 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, đầu tiên do các nông trường quân đội, sau năm 1985 do các nông trường quốc doanh quản lý và từ năm 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở miền Trung sau năm 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh. Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cây cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%.
Năm 2005, diện tích cây cao su cả nước là 464. Năm 2007 diện tích Cao Su ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), Tây Nguyên (113.000 ha), Trung tâm phía Bắc (41.500 ha) và Duyên Hải miền Trung (6. 16 Học viên: Trần Mạnh Thắng KH&KTVLPK-12B Nghiên cứu tổng hợp vật liệu polymer biến tính trên nền mủ cao su thiên nhiên của Việt Nam 1.2 Ngành cao su thiên nhiên hiện nay 1.1 Tình hình cao su thiên nhiên trên thế giới Năm 2012, tổng sản lượng cao su thiên nhiên sản xuất đạt 11,4 triệu tấn tăng 3,97% so với năm 2011. Trong đó, Châu Á chiếm ưu thế vượt trội khi chiếm tỷ trọng khoảng 93% trong tổng sản lượng sản xuất của thế giới, tiếp theo là Châu Phi (4-5%), Châu Mỹ Latin khoảng 2,5-3%[1].
Theo thống kê của Rubber Statistical Bulletin - IRSG, tiêu thụ cao su thiên nhiên toàn cầu năm 2012 đạt 10,9 triệu tấn, tăng 0,23% so với năm 2011. Châu Á là khu vực tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới, chiếm 69,7% tổng nhu cầu trên thế giới, kế đến là Châu Âu (13,5%), Bắc Mỹ (10,7%)[1] Hình 1.2: Biểu đồ sản xuất và tiêu thụ CSTN toàn cầu 2000-2012[1] Nhóm các nước sản xuất cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Việt Nam (chiếm 82% trong tổng sản lượng sản xuất của thế giới), nhóm các nước tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới là Trung Quốc (33,5%), Mỹ (9,5%), Ấn Độ (8,7%), Nhật Bản (6,6%). Riêng Trung Quốc bình quân 5 năm qua chiếm 32% tổng sản lượng tiêu thụ cao su thiên nhiên và chiếm đến 25% tổng kim ngạch nhập khẩu cao su thiên nhiên toàn cầu.