CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. VẬT LIỆU XÚC TÁC QUANG 1. Khái niệm xúc tác quang và cơ chế phản ứng Trong hóa học, khái niệm xúc tác quang dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng đồng thời của chất xúc tác và ánh sáng, hay nói cách khác ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứng xảy ra.
Việc sử dụng chất bán dẫn làm xúc tác quang hóa và áp dụng vào xử lý môi trường đã và đang thu hút được sự quan tâm nhiều hơn so với các phương pháp thông thường khác. Phương pháp này có một số ưu điểm sau: nổi bật nhất là bản thân chất xúc tác không bị biến đổi trong suốt quá trình và không cần cung cấp năng lượng khác cho hệ phản ứng, ngoài ra nó cũng có thể thực hiện ở nhiệt độ và áp suất bình thường, có thể sử dụng ánh sáng nhân tạo hoặc bức xạ tự nhiên của mặt trời, chất xúc tác rẻ tiền và không độc. Sự phân bố vùng hóa trị (VB) và vùng dẫn (CB) của chất cách điện, chất bán dẫn và chất dẫn điện [21] Hình 1.1 cho thấy thành phần của các vùng điện tử trong chất rắn được xác định rõ ràng. Theo lí thuyết vùng, cấu trúc điện tử của kim loại gồm có một vùng gồm những obitan phân tử liên kết được xếp đủ electron, được gọi là vùng hóa trị (Valance band - VB) và một vùng gồm những obitan phân tử liên kết còn trống electron, được gọi là vùng dẫn (Condutance band - CB).
Hai vùng này được chia cách nhau bởi một hố năng lượng được gọi là vùng cấm, 6 đặc trưng bởi năng lượng vùng cấm Eg (Band gap energy) chính là độ chênh lệch giữa hai vùng nói trên. Sự khác nhau giữa vật liệu dẫn điện, cách điện và bán dẫn chính là sự khác nhau về vị trí và năng lượng vùng cấm. Vật liệu bán dẫn là vật liệu có tính chất trung gian giữa vật liệu dẫn điện và vật liệu cách điện, khi có một kích thích đủ lớn (lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg), các electron trong vùng hóa trị của vật liệu bán dẫn có thể vượt qua vùng cấm nhảy lên vùng dẫn, trở thành chất dẫn điện có điều kiện. Quá trình xúc tác quang hóa bắt đầu khi các photon được hấp thụ bởi các chất bán dẫn có năng lượng cao hơn hoặc bằng với năng lượng vùng cấm dẫn đến sự kích thích các electron từ vùng hóa trị (VB) lên vùng dẫn (CB), tạo ra các cặp electron – lỗ trống quang sinh.
Các electron và lỗ trống quang sinh này có thể kết hợp lại trên bề mặt vật liệu xúc tác bán dẫn hay trong khối các hạt bán dẫn kèm theo việc giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt, hoặc di chuyển đến bề mặt nơi chúng có thể phản ứng với các phân tử bị hấp phụ trên bề mặt của vật liệu bán dẫn. Các lỗ trống quang sinh có khả năng oxi hóa và các electron quang sinh có khả năng khử. Xúc tác quang là một quá trình bao gồm nhiều bước khác nhau và một số lượng lớn các phản ứng xảy ra theo chuỗi và song song [21].2 mô tả cơ chế phản ứng xúc tác quang tổng quát của hợp chất dưới bức xạ tử ngoại (UV light) với sự hình thành các gốc và các cấu tử oxi hóa mạnh khác đã thúc đây sự phân hủy các chất độc hữu cơ trong nước. Cơ chế xúc tác quang dưới bức xạ UV bao gồm: (1) sự hình thành chất mang điện tích, (2) sự dịch chuyển điện tích, (3) sự bắt giữ điện tích, (4) sự tái kết hợp điện tích, và (5) các phản ứng xảy ra trên bề mặt xúc tác.
Cơ chế phản ứng xúc tác quang hóa dị thể [21] Dưới tác dụng của ánh sáng có bước sóng thích hợp, các electron hóa trị của các chất bán dẫn bị tách khỏi liên kết từ vùng hóa trị (VB) chuyển đến vùng dẫn (CB) tạo ra lỗ trống khuyết điện tử (mang điện tích dương) ở vùng hóa trị.1) Các electron và lỗ trống chuyển đến bề mặt và tương tác với một số chất bị hấp thụ như nước và oxy tạo ra những chất tự do trên bề mặt chất bán dẫn. Cơ chế phản ứng xảy ra như sau [35]: h +VB + H2O ⎯⎯ → HO• + H+ (1.4) 8 - H2O + eCB ⎯⎯ → HO• + HO- (1.5) h +VB + HO- ⎯⎯ → HO• (1.6) Các gốc tự do và sản phẩm trung gian tạo ra như •OH, •O2ˉ, H2O2, O2 đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quang phân hủy các hợp chất hữu cơ, nấm khi tiếp xúc. Lỗ trống mang điện tích dương tự do chuyển động trong vùng hóa trị, do đó các electron khác có thể nhảy vào lỗ trống để bão hòa điện tích, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Các electron quang sinh trên vùng dẫn cũng có xu hướng tái kết hợp với các lỗ trống quang sinh trên vùng hóa trị, kèm theo việc giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng.
Quá trình này làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu. Nhìn chung, hiệu quả của một chất xúc tác quang hóa phụ thuộc vào sự cạnh tranh của các quá trình chuyển hóa khác nhau trên bề mặt chung liên quan đến cặp lỗ trống - electron quang sinh và sự giảm hoạt hóa bởi sự tái hợp lại của các hạt mang điện tích này. Có nhiều yếu tố nội tại và bên ngoài đối với chất bán dẫn xúc tác quang ảnh hưởng đến quá trình động học và cơ chế của phản ứng xúc tác quang hóa trong môi trường nước. Pha tinh thể, bề mặt tinh thể tiếp xúc, kích thước tinh thể và sự có mặt của các chất thêm vào, tạp chất, chô trống, các trạng thái bề mặt khác nhau có thể được đưa vào các yếu tố nội tại.
Trong khi đó môi trường xung quanh và các điều kiện quang xúc tác (pH của dung dịch, chất ô nhiễm và nồng độ ban đầu của nó, sự có mặt của các tạp chất trong hệ, cường độ ánh sáng, liều lượng chất xúc tác và tốc độ dòng chảy) được xem như là các yếu tố bên ngoài [10]. Tiềm năng ứng dụng của vật liệu xúc tác quang Trong những năm gần đây, việc sử dụng các chất xúc tác quang đã được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực xử lý ô nhiễm môi trường. Để loại bỏ các 9 hợp chất hữu cơ trong nước, các chất xúc tác quang được chú trọng do hiệu quả kinh tế và môi trường. Vì lý do này, nhiều chất bán dẫn oxit đã được sử dụng hiệu quả như TiO2, ZnO, WO3,.
Trong số đó, TiO2 và ZnO được nghiên cứu nhiều nhất. Tuy nhiên, các vật liệu này chỉ hoạt động tốt trong vùng ánh sáng tử ngoại. Gần đây, các vật liệu mới như MoS2, Bi2MoO6, dung dịch rắn GaN-ZnO và g-C3N4,… đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Mặc dù vậy, để ứng dụng được trong thực tiễn, nhiều vấn đề cần được giải quyết, trong đó quan trọng nhất vẫn là xúc tác hoạt động có hiệu quả dưới điều kiện ánh sáng mặt trời.
Như đã đề cập, cơ chế của phản ứng xúc tác quang thường xảy ra theo nhiều bước. Trên cơ sở các bước này có nhiều phương pháp để cải tiến hoạt tính xúc tác quang của vật liệu bán dẫn. Một trong các phương pháp đó là giảm quá trình tái kết hợp electron lỗ trống quang sinh bằng cách tạo vật liệu composit. Việc làm này cải thiện đáng kể khả năng xúc tác quang của vật liệu nhờ hiệu ứng “bẫy electron”.
Nguyên nhân của quá trình này được trình bày ở Hình 1. Ở cơ chế này, khi chất bán dẫn được sự chiếu xạ của ánh sáng có Ehν ≥ Eg, các electron tách khỏi vùng hóa trị, nhảy lên vùng dẫn, tạo nên các cặp electron – lỗ trống quang sinh. Tuy nhiên, khác với chất bán dẫn tinh khiết, electron quang sinh trên vùng dẫn ở chất bán dẫn A, thay vì trở lại vùng hóa trị kết hợp với lỗ trống quang sinh (như chất bán dẫn tinh khiết), chúng lại nhảy sang vùng dẫn của chất bán dẫn B. Quá trình này làm giảm khả năng tái kết hợp electron – lỗ trống quang sinh, nghĩa là làm tăng thời gian tồn tại electron và lỗ trống, nhờ đó tạo ra càng nhiều gốc tự do •OH, •O2ˉ.
Đây là những gốc có tính oxy hóa rất mạnh, không chọn lọc, nhờ vậy nó làm tăng khả năng xúc tác quang của vật liệu. Cơ chế xúc tác quang của vật liệu biến tính [14] Có thể thấy rằng, sau khi được biến tính, hoạt tính quang xúc tác của vật liệu biến tính tăng lên rất nhiều so với các chất xúc tác quang riêng lẻ. Chẳng hạn như, g-C3N4/SrTiO3 [16], [42], Ag3PO4@g-C3N4 [27], La2NiO4/g-C3N4 [18], g-C3N4/CaTiO3 [7] đã cải thiện hoạt tính xúc tác quang của SrTiO3, Ag3PO4, La2NiO4, CaTiO3 và g-C3N4. Như vậy có thể thấy rằng phương pháp tạo vật liệu composit là một trong những hướng đi hiệu quả nhằm tăng hoạt tính xúc tác quang của vật liệu bán dẫn.
Từ đó đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới để điều chế các vật liệu có hiệu quả xúc tác quang dưới ánh sáng khả kiến ngày càng tốt hơn, nhằm khai thác tiềm năng ứng dụng của xúc tác quang trong thực tiễn. GIỚI THIỆU VỀ BARI TITANAT 1. Đặc điểm cấu trúc của bari titanat Bari titanat ứng với công thức hóa học là BaTiO3. BaTiO3 có cấu trúc tinh thể lý tưởng kiểu lập phương với hằng số mạng a = b = c = 3,966 Å, α = β = γ = 90o, các nguyên tử định vị Ba (0; 0; 0), Ti (1/2; 1/2; 1/2), O1 (1/2; 1/2; 0), O2 (1/2; 0; 1/2) và O3 (0; 1/2; 1/2) [13] (Hình 1.
Mỗi ô cơ sở chứa 1 11 nguyên tử Ti nằm ở tâm lập phương, 6 nguyên tử O nằm ở tâm các mặt và 8 nguyên tử Ba nằm ở các đỉnh. Trong đa số các trường hợp thì xuất hiện sự lệch mạng tinh thể. Sự lệch khỏi cấu trúc lý tưởng dẫn đến hệ tinh thể có tính đối xứng thấp hơn giảm dần như là orthorhomic (trực thoi), rhombohedral (mặt thoi), tetragonal (tứ giác), monoclinic (đơn tà hay một nghiêng), và triclicnic (tam nghiêng hay tà nghiêng). Cấu trúc lệch mạng có thể tồn tại ở nhiệt độ phòng nhưng nó có thể chuyển sang cấu trúc lập phương ở nhiệt độ cao.
Sự chuyển pha cấu trúc này có thể xuất hiện nhiều bước qua các pha lệch trung gian [4]. BaTiO3 là chất bán dẫn loại n [34], nó có năng lượng vùng cấm cỡ 3,2 eV [50]. Ở kích thước nanomet, khi kích thước hạt giảm thì năng lượng vùng cấm tăng lên.