Đồ án HCMUTE: Nghiên cứu chế tạo vật liệu nhẹ ứng dụng trong xây dựng

Đồ án nghiên cứu hcmute nghiên cứu chế tạo vật liệu nhẹ ứng dụng trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu giải pháp kỹ thuật cho bài toán kỹ thuật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đồ án tốt nghiệp

2019

104
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về vật liệu composite

1.1.1. Khái niệm

1.2. Tình hình nghiên cứu sử dụng vật liệu composite

1.2.1. Thế giới

1.2.2. Trong nước

1.3. Mục đích sử dụng vật liệu composite

1.4. Theo hình dạng

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO

2.1. Nguyên liệu và hóa chất

2.2. Thiết bị và dụng cụ

2.3. Lý do chọn nguyên liệu

2.4. Ván ép truyền thống

2.5. Sợi gia cường

2.6. Thực hành chế tạo vật liệu composite

2.7. Quy trình xử lí xơ mướp

2.8. Quy trình chế tạo mẫu composite

2.9. Kiểm tra cơ tính của vật liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Khảo sát khối lượng của vật liệu

3.2. Khảo sát ảnh hưởng của loại vật liệu gia cường đến cơ tính của vật liệu

3.3. Khảo sát ảnh hưởng của lớp biên đến cơ tính của vật liệu

3.4. Khảo sát ảnh hưởng của cấu trúc lõi đến cơ tính của vật liệu

3.5. Khảo sát mối tương quan giữa khối lượng với cơ tính của vật liệu

3.6. Khảo sát ảnh hưởng của kết cấu đến cơ tính của vật liệu

3.7. Khảo sát giá thành của các loại vật liệu

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu nhẹ trong xây dựng

Vật liệu nhẹ trong xây dựng đã trở thành một xu hướng quan trọng trong ngành xây dựng hiện đại. Vật liệu xây dựng nhẹ không chỉ giúp giảm trọng lượng tổng thể của công trình mà còn mang lại nhiều lợi ích về hiệu suất và tiết kiệm chi phí. Việc sử dụng vật liệu xây dựng mới như composite và bê tông nhẹ đã cho thấy sự cải thiện đáng kể trong khả năng chịu lực và độ bền. Theo nghiên cứu, vật liệu composite có thể giảm thiểu khối lượng mà vẫn đảm bảo độ bền cần thiết cho các công trình. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng tại TP.HCM, nơi mà nhu cầu về nhà ở và cơ sở hạ tầng ngày càng tăng cao. Sự phát triển của công nghệ vật liệu đã mở ra nhiều cơ hội cho việc ứng dụng các loại vật liệu nhẹ, giúp nâng cao hiệu quả xây dựng và bảo vệ môi trường.

1.1. Đặc điểm và ứng dụng của vật liệu nhẹ

Vật liệu nhẹ thường có trọng lượng thấp, khả năng cách âm và cách nhiệt tốt, đồng thời có khả năng chống thấm và chống cháy hiệu quả. Những đặc điểm này làm cho vật liệu nhẹ trở thành lựa chọn lý tưởng cho các công trình xây dựng hiện đại. Chẳng hạn, bê tông nhẹvật liệu composite được sử dụng rộng rãi trong việc xây dựng vách ngăn, trần nhà và các cấu trúc chịu lực. Việc áp dụng vật liệu nano trong sản xuất vật liệu nhẹ cũng đã cho thấy tiềm năng lớn trong việc cải thiện tính chất cơ học và hóa học của vật liệu. Sự kết hợp giữa vật liệu nhẹ và công nghệ tiên tiến không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn giảm thiểu tác động đến môi trường, góp phần vào việc phát triển bền vững trong ngành xây dựng.

II. Nghiên cứu và phát triển vật liệu nhẹ tại HCMUTE

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM (HCMUTE) đã tích cực nghiên cứu và phát triển các loại vật liệu xây dựng nhẹ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Các nghiên cứu tại HCMUTE tập trung vào việc chế tạo vật liệu composite từ các nguồn nguyên liệu tái chế, như xơ mướp và xốp PU, kết hợp với nhựa nền polyester không no. Mục tiêu là tạo ra các sản phẩm có trọng lượng nhẹ, độ bền cao và thân thiện với môi trường. Việc áp dụng công nghệ vật liệu mới trong nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất. HCMUTE đã thực hiện nhiều thí nghiệm để khảo sát cơ tính của các loại vật liệu này, từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu cho việc ứng dụng trong xây dựng.

2.1. Quy trình chế tạo và thử nghiệm

Quy trình chế tạo vật liệu nhẹ tại HCMUTE bao gồm các bước chọn lựa nguyên liệu, xử lý sơ bộ và chế tạo mẫu. Các nguyên liệu như xơ mướp được xử lý bằng dung dịch NaOH để cải thiện tính chất cơ học. Sau đó, các lớp biên và lớp lõi được tạo ra bằng phương pháp đắp tay, với tỷ lệ nhựa và sợi được tối ưu hóa. Các mẫu vật liệu sau khi chế tạo sẽ được kiểm tra về khối lượng, độ bền uốn và độ bền nén theo tiêu chuẩn ASTM. Kết quả cho thấy, vật liệu composite có khả năng chịu lực tốt và trọng lượng nhẹ hơn so với các vật liệu truyền thống, mở ra hướng đi mới cho ngành xây dựng tại TP.HCM.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của vật liệu nhẹ

Việc nghiên cứu và phát triển vật liệu nhẹ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ môi trường. Sử dụng vật liệu xây dựng mới giúp giảm thiểu ô nhiễm và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Các sản phẩm từ vật liệu composite có thể được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng, từ vách ngăn, tấm ốp cho đến các cấu trúc chịu lực. Hơn nữa, việc áp dụng công nghệ vật liệu tiên tiến trong sản xuất giúp nâng cao chất lượng và độ bền của sản phẩm, đồng thời giảm thiểu chi phí thi công. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu xây dựng hiện đại mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành xây dựng tại TP.HCM.

3.1. Tác động đến môi trường và kinh tế

Sự phát triển của vật liệu nhẹ có tác động tích cực đến môi trường và kinh tế. Việc sử dụng các nguồn nguyên liệu tái chế trong sản xuất vật liệu không chỉ giúp giảm thiểu chất thải mà còn tiết kiệm chi phí sản xuất. Hơn nữa, vật liệu nhẹ giúp giảm tải trọng cho các công trình, từ đó giảm thiểu chi phí vận chuyển và thi công. Các nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng vật liệu composite có thể giảm hơn 50% chi phí xây dựng so với vật liệu truyền thống. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho các nhà đầu tư mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững trong ngành xây dựng.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục. xi do an CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về vật liệu composite 1. Khái niệm Vật liệu composite là vật liệu đƣợc chế tạo tổng hợp từ hai hay nhiều vật liệu khác nhau nhằm mục đích tạo ra vật liệu mới có tính năng ƣu việt hơn hẳn vật liệu ban đầu.

Sự kết hợp này nhằm khắc phục khuyết điểm của vật liệu này bằng ƣu điểm của vật liệu kia, tạo ra vật liệu có những tính chất đặc biệt mà các vật liệu ban đầu không có đồng thời hạ giá thành sản phẩm [1]. Vật liệu composite đƣợc cấu tạo từ các thành phần cốt nhằm bảo đảm cho composite có đƣợc các đặc tính cơ học cần thiết và vật liệu nền đảm bảo cho các thành phần của composite liên kết hài hòa với nhau. Tình hình nghiên cứu sử dụng vật liệu composite 1. Thế giới Với lịch sử phát triển phong phú của mình, vật liệu composite đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới biết đến.

Việc nghiên cứu và áp dụng thành công vật liệu này đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới áp dụng. Đại chiến thế giới lần thứ hai, nhiều nƣớc đã sản xuất máy bay, tàu chiến và vũ khí phục vụ cho cuộc chiến này. Cho đến nay thì vật liệu composite đã đƣợc sử dụng để chế tạo nhiều chi tiết, linh kiện ô tô, máy bay, dựa trên những ƣu điểm đặc biệt nhƣ giảm trọng lƣợng, tiết kiệm nhiên liệu, tăng độ chịu ăn mòn, chịu hóa chất, giảm độ rung, tiếng ồn và tiết kiệm nhiên liệu cho máy móc [2]. Bên cạnh đó cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loại vật liệu composite thân thiện với môi trƣờng, thay thế sợi gia cƣờng truyền thống bằng các loại sợi có nguồn gốc thiên nhiên.

Năm 2008, Kim Sam Jung và các cộng sự của mình tiến hành so sánh tính chất cơ học của vật liệu composite trên nền nhựa polypropylene đƣợc gia cƣờng bởi sợi gỗ và sợi 1 do an bông [3]. Đồng thời, họ đã sử dụng polypropylene ghép anhydride (MAPP) làm chất tƣơng thích để tăng khả năng thấm ƣớt giữa nhựa và sợi. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi tăng % trọng lƣợng của sợi gỗ thì độ bền kéo của vật liệu composie PP/sợi gỗ giảm, trong khi đó của vật liệu PP/sợi bông thì ngƣợc lại. Năm 2014, Ramirez N Flores cùng với các cộng sự của mình đã chế tạo vật liệu composite đi từ sợi lục bình kết hợp với nhựa UPE theo những tỷ lệ sợi khác nhau (5, 10, 15 và 20% khối lƣợng) [4].

Kết quả cho thấy cơ tính của vật liệu đạt hiệu quả tốt nhất khi hàm lƣợng sợi lục bình nằm trong khoảng từ 5 đến 10% khối lƣợng. Ngoài ra, việc nghiên cứu tính chất nhiệt và xác định cấu trúc của vật liệu cũng đƣơc thực hiện bằng phƣơng pháp đo FTIR và DSC.Vinayagamoorthy đã tiến hành nghiên cứu các đặc trƣng về vật liệu composite có cấu trúc sanwich trên nền nhựa UPE và lõi đi từ các loại sợi thiên nhiên nhƣ xơ mƣớp, đay [5]. Từ đó đƣa ra những nhận định về cơ tính của từng loại, kết quả cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng bằng cách lựa chọn thích hợp sợi tự nhiên và nhựa nền sẽ quyết định đến tính chất cơ học của vật liệu composite. Năm 2016, Prasad Nirupama và các cộng sự của mình đã chế tạo vật liệu composite trên nền nhựa polyetylene tỉ trọng thấp (LDPE) kết hợp với sợi chuối [6] bằng kỹ thuật đúc nén với các tỷ lệ sợi khác nhau (10, 15, 20, 25 và 30% trọng lƣợng).

Kết quả nghiên cứu cho thấy vật liệu composite với thành phần 25% sợi chuối đƣợc xem là tối ƣu nhất trên cơ sở phân hủy sinh học và tính chất cơ học. Bên cạnh đó việc xử lý bề mặt sợi chuối bằng kiềm và acid acrylic cũng cải thiện một phần đáng kể về cơ tính của vật liệu. Mohana Krishnudu đã chế tạo vật liệu composite đƣợc gia cƣờng từ xơ mƣớp với tỷ lệ thành phần nguyên liệu khác nhau [7]. Sau đó chỉ ra những tính chất nổi bật cũng nhƣ là so sánh cơ tính về độ bền kéo, độ va đập so với các mẫu vật liệu truyền thống.

Kết quả thu đƣợc cho thấy vật liệu composite cốt sợi tự nhiên này có thể thay thế cho các mẫu vật liệu cốt sợi tổng hợp. Trong nước Tính đến thời điểm hiện nay, chúng ta đã có nhiều nghiên cứu chế tạo vật liệu composite đi từ nền nhựa nhiệt dẻo kết hợp với các phế phẩm nông nghiệp nhƣ là mùn cƣa, trấu hay là tre, luồng,… Năm 2007, Nguyễn Hữu Niếu và các cộng sự của mình đã nghiên cứu một số thay đổi về tính chất sợi dứa Việt Nam bằng phƣơng pháp xử lý trong dung dịch sodium hydroxide (NaOH) [8]. Mục đích của nghiên cứu nhằm sử dụng sợi dứa đã đƣợc xử lí để chế tạo vật liệu composite trên nền nhựa polyolefin. Ngoài ra, một số tính chất liên quan nhƣ tỷ trọng, độ hút ẩm và khảo sát hồng ngoại của sợi dứa cũng đƣợc thực hiện.

Đoàn Thị Thu Loan đã nghiên cứu chế tạo vật liệu composite đi từ nhựa vinylester và sợi đay [9]. Bằng cách áp dụng phƣơng pháp gia công “đúc chuyển nhựa dƣới chân không” làm giảm đáng kể lƣợng bọt khí trong sản phẩm và tăng khả năng tiếp xúc giữa nhựa và sợi, tạo nên sản phẩm có tính năng tốt hơn phƣơng pháp gia công truyền thống “đắp tay”. Năm 2012, tác giả Phạm Thị Phƣơng Dung đã nghiên cứu chế tạo vật liệu composite từ trấu và nhựa polypropylene [10]. Với phƣơng pháp biến tính nhựa nền bằng cách sử dụng tác nhân tƣơng hợp MAPP loại polybond 3200, một loại polypropylene maleat hóa để xác định điều kiện gia công và đơn phối liệu tối ƣu cho mẫu vật liệu composite.

Năm 2016, tác giả Trần Thị Thu Hằng đã nghiên cứu chế tạo vật liệu composite trên nền nhựa polyetylene và mùn cƣa [11]. Để cải thiện độ bám dính của nhựa nền với mùn cƣa, tác giả chọn chất tƣơng hợp MAPE và sử dụng các phụ gia ổn định nhiệt (songnox 1010) để ngăn cản sự oxy hóa trong quá trình gia công. Cũng trong năm 2016, tác giả Đỗ Thị Nhi cùng các cộng sự của mình trực thuộc trƣờng Đại học khoa học Tự nhiên TP.HCM đã tiến hành khảo sát tính chất của vật liệu polyurethane xốp đƣợc gia cƣờng bởi sợi tre [12]. Kết quả cho thấy composite PU xốp/sợi tre với 5% sợi có độ bền nén cao hơn PU xốp.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn xác định một số tính chất khác nhƣ độ bền nhiệt bằng phƣơng pháp phân tích nhiệt trọng lƣợng (TGA), xác định hình thái cấu trúc xốp bằng phƣơng pháp chụp ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM). Mục đích sử dụng vật liệu composite Việc sử dụng vật liệu composite nhằm các mục đích sau [1]: - Chi phí thấp: chi phí về vật liệu xây dựng chiếm đến 40 - 60% tổng chi phí xây dựng. Tùy theo tính năng và quy mô của công trình, việc lựa chọn vật liệu đóng vai trò quyết định đối với chất lƣợng và giá thành sản phẩm. - Trọng lƣợng nhẹ: với hàng triệu bọt khí li ti có thể có trong kết cấu, composite có trọng lƣợng rất nhẹ (từ 900 kg/m3 đến 1400 kg/m3), so với gạch đỏ truyền thống và bê tông thông thƣờng (từ 1800 kg/m3 đến 2400 kg/m3).

Lợi thế về trọng lƣợng nhẹ, chất lƣợng tốt, bền vững theo thời gian giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí trong các công trình xây dựng. - Cƣờng độ nén cao: tỉ trọng của composite nhẹ rất đa dạng từ 900 kg/m3 đến 1400 kg/m3, với cƣờng độ nén tƣơng ứng là 4,0 đến 12,5 N/mm2. - Khả năng cách âm tốt: vật liệu composite nhẹ có khả năng cách âm tuyệt vời là giải pháp tối ƣu trong các công trình có yêu cầu cao về cách âm nhƣ: bệnh viện, trƣờng học, khách sạn,… - Khả năng chống thấm cực tốt: composite có kết cấu bê tông với hàng triệu bọt khí li ti tạo nên một hệ thống lỗ tổ ong kín với kích thƣớc siêu nhỏ, ngăn sự thẩm thấu của nƣớc. Do đó, khả năng chống thấm cao, thƣờng đƣợc sử dụng trong thi công bể bơi, bồn chứa, sàn chống thấm,… - Khả năng giảm thiểu ảnh hƣởng của động đất: với trọng lƣợng nhẹ, vật liệu composite có khả năng kháng lại sức tàn phá của động đất, giảm thiểu tối đa tỉ lệ thƣơng vong và thiệt hại về tài sản.

- Khả năng cách nhiệt và chống cháy: so với các loại vật liệu khác, gạch bê tông bọt siêu nhẹ có khả năng cách nhiệt và chông cháy rất hiệu quả, giúp giảm đáng kể chi phí điều hòa nhiệt độ trong các công trình xây dựng. - Dễ thi công: với hình khối chữ nhật, gạch bê tông siêu bọt có thể dễ dàng sản xuất theo các hình thức khác nhau. Trọng lƣợng nhẹ giúp công tác thi công trở nên dễ dàng, và tốn ít nhân lực hơn. - Chất lƣợng vững bền theo thời gian: composite nhẹ vững bền theo thời gian trong mọi điều kiện thời tiết, không bị mối mọt và chống cháy cao.

4 do an - Tiết kiệm chi phí vật liệu xây dựng: sử dụng vật liệu composite giúp giảm hơn 50% chi phí xây dựng so với vật liệu truyền thống. Theo hình dạng Phân loại theo hình dạng, vật liệu composite chia làm 2 loại: vật liệu composite độn dạng sợi và vật liệu composite độn dạng hạt [2]. Vật liệu composite độn dạng sợi : Khi vật liệu gia cƣờng là các sợi, ta gọi đó là composite độn dạng sợi, chất độn dạng sợi gia cƣờng tăng cơ lý tính cho polymer nền. Sợi đƣợc sử dụng có thể dƣới dạng liên tục hoặc gián đoạn.

Ta có thể điều chỉnh sự phân bố phƣơng của sợi để có đƣợc vật liệu định hƣớng theo mong muốn và để tạo ra vật liệu có cơ tính khác nhau cần chú ý tới: - Bản chất của vật liệu thành phần. - Tỉ lệ vật liệu. Vật liệu composite độn dạng hạt: Khi vật liệu gia cƣờng có dạng hạt, các tiểu phân hạt độn phân tán vào polymer nền. Hạt khác sợi ở chỗ nó không có kích thƣớc ƣu tiên.

Hạt thƣờng đƣợc sử dụng để cải thiện một số cơ tính của vật liệu hoặc vật liệu nền, chẳng hạn tăng độ cứng, khả năng chịu nhiệt, chịu mài mòn, giảm co ngót. Theo thành phần Dựa theo bản chất vật liệu nền, vật liệu composite chia làm 3 loại: composite nền hữu cơ, composite nền kim loại và composite nền khoáng [2].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu vật liệu nhẹ cho xây dựng tại HCMUTE" trình bày những nghiên cứu và ứng dụng của vật liệu nhẹ trong ngành xây dựng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các vật liệu này nhằm nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí trong xây dựng. Các vật liệu nhẹ không chỉ giúp giảm tải trọng cho công trình mà còn cải thiện khả năng cách nhiệt và chống ẩm, từ đó nâng cao tuổi thọ và độ bền của công trình.

Để mở rộng thêm kiến thức về các loại vật liệu và ứng dụng của chúng, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học khảo sát điều kiện tổng hợp vật liệu kháng khuẩn nanocomposite bạc trên cơ sở graphene oxit, nơi nghiên cứu về vật liệu kháng khuẩn có tiềm năng ứng dụng trong xây dựng. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật môi trường nghiên cứu chế tạo than hoạt tính từ quả phượng và ứng dụng trong xử lý nước thải cũng cung cấp cái nhìn về vật liệu có khả năng xử lý môi trường, một yếu tố quan trọng trong xây dựng bền vững. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học nghiên cứu quy trình tổng hợp vật liệu aerogels từ xơ dừa và ứng dụng hấp phụ, một loại vật liệu nhẹ với nhiều ứng dụng tiềm năng trong xây dựng và bảo vệ môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vật liệu tiên tiến trong ngành xây dựng.