Chương 1. Đại cương về vật liệu nano Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, trong khoa học xuất hiện một dãy các từ mới gắn liền với hậu tố “nano” như cấu trúc nano, công nghệ nano, vật liệu nano, hoá học nano, vật lý nano, cơ học nano, công nghệ sinh học nano, hiệu ứng kích thước nano v. Người ta cũng đã công bố hàng loạt các bài báo, các công trình khoa học, các tạp chí, sách chuyên khảo và tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo gắn liền với chủ đề công nghệ nano. Xuất hiện nhiều trung tâm, viện nghiên cứu, tổ bộ môn, khoa, chuyên ngành về công nghệ nano và vật liệu nano.
Khi giảm kích thước hạt đến thang nanomet sẽ dẫn đến xuất hiện trong chúng “hiệu ứng kích thước lượng tử”, khi đó kích thước các đối tượng nghiên cứu có thể so sánh được với bước sóng De Broglie của electron và photon. Một trong những nguyên nhân cơ bản làm thay đổi các tính chất hóa lý của vật liệu có kích thước hạt nhỏ là tăng vai trò năng lượng bề mặt (theo quan điểm về năng lượng). Chữ “nano”, gốc Hy Lạp, được gắn vào trước các đơn vị đo để tạo ra đơn vị ước giảm đi 1 tỷ lần [21]. Ví dụ: nanogam = 1 phần tỷ gam; nanomet = 1 phần tỷ mét hay 1 nm = 10-9 m (có thế so sánh là 1nm nhỏ hơn độ dày sợi tóc của con người 100 ngàn lần).
“Khoa học nano” là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp vào vật liệu ở cấp độ nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các quy mô này, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng ở quy mô lớn hơn. Loại vật liệu này đã và đang được quan tâm do chúng có nhiều tính chất vật lý, hoá học và nhiều ứng dụng khác đặc biệt hơn so với vật liệu micro thông thường cùng thành phần hóa học. 10 “Công nghệ nano” là tổ hợp các quá trình chế tạo ra vật liệu, các thiết bị máy móc và các hệ kỹ thuật mà chức năng của chúng được xác định bởi cấu trúc nano, tức là các đơn vị cấu trúc có kích thước từ 1 đến 100 nm.
Công nghệ nano xuất hiện trên cầu nối của một số ngành khoa học như hoá học, vật lý, cơ học, khoa học vật liệu, sinh học và nhiều lĩnh vực khác của khoa học ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực hiện đại của khoa học và kỹ thuật và thông qua chúng, nó đi vào đời sống của chúng ta [22]. “Vật liệu nano” là vật liệu trong đó ít nhất một chiều có kích thước nanomet. Về trạng thái của vật liệu, người ta phân chia thành ba trạng thái: rắn, lỏng và khí. Vật liệu nano được tập trung nghiên cứu hiện nay, chủ yếu là vật liệu rắn, sau đó mới đến chất lỏng và khí.
Thông thường vật liệu nano được phân ra thành nhiều loại, phụ thuộc vào hình dạng, chức năng, lĩnh vực ứng dụng, cấu trúc của vật liệu và kích thước của chúng v. Về mặt cấu trúc thì vật liệu nano được phân ra thành 4 loại: vật liệu nano không chiều (0D), một chiều (1D), hai chiều (2D) (hình 1. Phân loại vật liệu nano theo số chiều 11 Vật liệu nano không chiều là vật liệu cả ba chiều đều có kích thước nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử như đám nano, hạt nano v. Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều (hai chiều cầm tù), ví dụ dây nano, ống nano v.
Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, hai chiều tự do, ví dụ như màng mỏng. Vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nm hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều, một chiều hay hai chiều đan xen lẫn nhau. Ngoài ra, người ta còn phân loại các dạng vật liệu nano dựa vào lĩnh vực ứng dụng khác nhau của chúng như vật liệu nano kim loại, vật liệu nano bán dẫn, vật liệu nano từ tính, vật liệu nano sinh học. Quá trình tổng hợp các cấu trúc nano khác nhau như “hạt, thanh, dây, ống (hình 1.2) hay các cấu trúc nano kì dị” với sự đồng đều về kích thước, hình dạng và pha tinh thể đang được tập trung nghiên cứu [23].
Theo đó, nhiều hệ vật liệu nano mới với những mục đích ứng dụng khác nhau được tạo ra. Phân loại vật liệu nano theo hình dạng 12 Theo quan điểm của nhiều tác giả, “hạt nano” là một đối tượng nano không chiều (0D) mà kích thước tất cả các chiều đều có một bậc đại lượng, về nguyên tắc, các hạt nano có dạng hình cầu [24, 25]. Theo quan điểm về năng lượng sự giảm kích thước hạt sẽ làm tăng vai trò năng lượng bề mặt của hạt cấu trúc. Các tính chất đặc trưng cho bản chất của vật liệu như: hằng số điện môi, điểm nóng chảy, chiết suất cũng có thể bị thay đổi khi giảm kích thước xuống thang nano.
Ngoài ra, còn có nhiều tính chất đặc trưng khác của vật liệu như: hoạt tính bề mặt, diện tích bề mặt; các tính chất nhiệt, điện, từ, quang học, cơ học, hóa học và thậm chí cả sinh học… của vật liệu cũng bị thay đổi khi giảm kích thước đến giá trị nanomet. Ngày nay để tổng hợp vật liệu nano người ta dựa vào hai nguyên lý cơ bản: 1) Nguyên lý từ trên xuống dưới (top-down), nghĩa là chia nhỏ một hệ thống lớn để cuối cùng tạo ra được đơn vị có kích thước nano; 2) Nguyên lý từ dưới lên (bottom-up), nghĩa là lắp ghép những nguyên tử, phân tử hay ion để tạo ra những hạt có kich thước nano. Gần đây, việc chế tạo vật liệu nano theo phương thức bottom-up đã trở thành kỹ thuật có thể tạo ra các vật liệu đa dạng về hình thái và kích thước mà loài người hằng mong muốn, nên thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và thực nghiệm trong và ngoài nước. Trong bối cảnh đó người ta nói đến hóa học nano, đặc biệt là hóa học cao phân tử có thể trở thành một phương tiện quan trọng của phương thức bottom-up.
13 Ngoài ra, theo tác giả về nguyên tắc có thể chế tạo vật liệu nano từ vật liệu nano, có nghĩa là thực hiện phản ứng giữa các chất có kích thước nano để tạo ra một vật liệu nano có thành phần hóa học khác với thành phần hóa học của vật liệu nano ban đầu. Tuy nhiên, theo các tài liệu trích dẫn chưa có một hệ vật liệu nano nào được tổng hợp theo phương pháp này. Có thể là do phương pháp này khó thực hiện và không có lợi về mặt kinh tế. Cấu trúc của mạng tinh thể perovskite ABO3 1.
Cấu trúc tinh thể ABO3 lý tưởng Hợp chất perovskite ABO3 thuần có cấu trúc tinh thể lý tưởng như hình 1. Ô mạng cơ sở là hình lập phương tâm khối với các thông số mạng cơ sở thỏa mãn: a b c và 90o. z y x a) b) Vị trí cation A2+(A3+) Vị trí cation B4+(B3+) Vị trí anion O2- Hình 1. Cấu trúc tinh thể của perovskite ABO3 lý tưởng Ở đây cation A nằm tại các mặt của hình lập phương, còn cation B có bán kính nhỏ hơn nằm tại tâm của hình lập phương.
Cation B được bao quanh bởi 8 cation A và 6 anion O2-, còn quanh mỗi vị trí A có 12 anion O2- như ở hình 1. Ngoài ra, có thể mô tả cấu trúc tinh thể perovskite lý tưởng dưới dạng sắp xếp các bát diện BO6 như hình 1. Trong trường hợp này, cation B nằm tại vị trí các hốc bát diện, tâm của hình lập phương tạo bởi 8 cation B lân cận là vị trí của cation A.3b, có thể thấy góc liên kết B – O – B là 180° và độ dài liên kết B – O bằng nhau theo mọi phương. Bát diện FeO6 ảnh hưởng rất nhiều đến tính chất điện và tính chất từ của vật liệu.
Cấu trúc tinh thể ABO3 biến tính Cấu trúc tinh thể ABO3 biến tính là khi cation A hoặc B hoặc cả cation A và B được thay thế một phần bởi các cation kim loại khác, có thể viết dưới dạng công thức tổng quát ( A1 x Ax' )( B1 y B'y )O3 (0 x, y 1). Với A và A’ có thể là các nguyên tố đất hiếm hóa trị (III) như La, Y, Nd, Pr… hay các kim loại hóa trị (II) như Ca, Sr, Ba, Pb, Zn, Cd, Hg…; B và B’ có thể là các kim loại chuyển tiếp ho d như Mn, Co, Fe, Ni, Cr hay các kim loại hóa trị (IV) như Ti, Sn, Zr, Ge …. Ví dụ một số hệ thường gặp: CaTiO3, LaFe1-xNixO3, LaNi1-xCoxO3, LaCo1-xFexO3, La1-xSrxFeO3, La1-xTixFeO3, La1-xNdxFeO3, LaFe0.5O3, La1- xSrxMnO3, La1-xCaxMnO3 , Ca1-xNdxMnO3, Ca1-xNdxMn1-yFeyO3 ; La1-xSrxMn1- yNiyO3 [18-20, 27, 28]. Sự pha tạp thay thế sẽ tạo ra trạng thái hỗn hợp hóa trị và sai lệch cấu trúc làm cho hợp chất nền trở thành vật liệu có nhiều hiệu ứng lý thú như hiệu ứng nhiệt điện, hiệu ứng từ trở khổng lồ, hiệu ứng từ nhiệt … Sự sai lệch cấu trúc tinh thể được đánh giá thông qua thừa số dung hạn t do Goldsmith đưa ra: RA RO t 2 RB RO Với RA, RB, RO lần lượt là bán kính của các ion A2+(A3+), B4+(B3+) và O2-.
Cấu trúc perovskite được coi là ổn định khi 0,79 < t < 1,02. Điều đó kéo theo các cation phải có kích thước giới hạn: RA > 0,9 và RB > 0. Khi t = 1, ta có cấu trúc perovskite là hình lập phương như hình 1. Khi t ≠ 1, cấu trúc perovskite không còn dạng lập phương lý tưởng, dẫn tới góc liên kêt B – O – B khác 1800, đồng thời độ dài liên kết B – O theo các phương khác nhau sẽ khác nhau (hình 1.
Sự biến dạng cấu trúc perovskite khi góc B-O-B 180 Chính sự thay đổi cấu trúc mạng tinh thể perovskite mà các tính chất đối xứng, tính chất điện, tính chất từ của vật liệu bị thay đổi. Đặc biệt khi có lẫn các cation kim loại khác với các tỉ lệ hợp thức phù hợp sẽ tạo ra những loại hợp chất mới có tính chất đặc biệt vượt trội hơn so với tính chất của vật liệu tinh thể thuần ban đầu. Đây là hướng nghiên cứu mới đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới. Vật liệu trên cơ sở YFeO3 Tinh thể YFeO3 có cấu trúc trực thoi hoặc lục giác (giống YAlO3) tùy thuộc vào điều kiện tổng hợp nên nó.