Mở đầu hƣơng 1. Tổng quan lý thuyết hƣơng 2. Thực nghiệm hƣơng 3. Kết quả và thảo luận Kết luận và kiến nghị 6 C ơn 1.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 11 G t ệu về vật l ệu xúc tác quan 1. Khái niệm xúc tác quang Thuật ngữ “xúc tác quang” đƣợc dành cho các phản ứng đƣợc tiến hành khi có mặt đồng thời các chất bán dẫn và ánh sáng. Theo đó, IUPA định nghĩa xúc tác quang là “sự thay đổi tốc độ phản ứng hay lƣợng chất ban đầu do hoạt động của các bức xạ cực tím, khả kiến và hồng ngoại trong sự có mặt của một chất – gọi là chất xúc tác quang – đã hấp thụ năng lƣợng từ nguồn bức xạ”, và quá trình này “chỉ bao gồm sự chuyển khối hóa học của các chất tham gia phản ứng”. Phản ứng đảm bảo các yêu cầu trên gọi là phản ứng xúc tác quang.
Khác với các chất xúc tác thông thƣờng đƣợc hoạt hóa bằng nhiệt, chất xúc tác quang đƣợc hoạt hóa bằng các photon ánh sáng có năng lƣợng thích hợp. Xử lý nƣớc thải chứa các chất hữu cơ ô nhiễm bằng phƣơng pháp quang xúc tác đƣợc biết là công nghệ thân thiện với môi trƣờng và có tiềm năng ứng dụng trong thực tiễn [18]. Cơ chế quang xúc tác Quang xúc tác là phản ứng sử dụng nguồn năng lƣợng từ các bức xạ điện từ của photon để hoạt hóa phản ứng. Phƣơng trình Plank biểu diễn mối quan hệ giữa tần số, ν của bức xạ điện từ và năng lƣợng (E) tƣơng ứng của nó, nhƣ sau: E = hν (h: hằng số Plank) (1.1) ể kích thích electron từ vùng hóa trị lên vùng dẫn, năng lƣợng của bức xạ điện từ cần phải lớn hơn năng lƣợng vùng cấm của chất bán dẫn.
Mỗi một photon có một năng lƣợng (hay bƣớc sóng riêng) kích thích để tách một electron khỏi vùng hóa trị chuyển đến vùng dẫn (e-CB) và một lỗ trống mang điện tích dƣơng ở vùng hóa trị (h+VB). Các hợp phần mang điện quang sinh này (e-CB và h+VB) hoạt động theo những hƣớng rất đa dạng tùy thuộc vào cấu trúc điện tử và môi trƣờng hoạt động của bán dẫn. Sau khi đƣợc hình thành, các tiểu phân mang điện quang sinh có hai khả năng tiếp tục hoạt động. Thứ nhất, các tiểu phân này di chuyển đến các vị trí bẫy 7 nằm trên bề mặt vật liệu để tiến hành các tƣơng tác với các hợp phần hấp phụ cho hoặc nhận electron.
Thứ hai, các tiểu phân mang điện quang sinh có thể tái tổ hợp do gặp nhau trong quá trình dịch chuyển. Quá trình tái tổ hợp làm ngăn cản hoạt động quang oxi hóa khử và dẫn đến làm giảm hoạt tính xúc tác quang của vật liệu. ác quá trình phân hủy chất hữu cơ ô nhiễm trên vật liệu xúc tác quang bán dẫn có thể đƣợc minh họa ở Hình 1.1 Mô p ỏn quá trìn xúc tác quan p ân ủy các ợp c ất ữu cơ trên vật l ệu bán d n [18] ƣới tác dụng của ánh sáng, cơ chế xúc tác quang trên chất bán dẫn gồm các quá trình: Chất bán dẫn (C) + hν → e-CB(C) + h+VB(C) (1.2) Các electron và lỗ trống chuyển đến bề mặt và tƣơng tác với một số chất bị hấp phụ trên bề mặt nhƣ nƣớc và oxy tạo ra những gốc tự do trên bề mặt chất bán dẫn [14]. ơ chế phản ứng xảy ra nhƣ sau: hVB H 2O HO H (1.7) H2O2 phản ứng tạo ra HO H 2O2 h 2HO (1.8) 8 H 2O2 eCB HO HO (1.10) Ion OH- sinh ra có thể tác dụng với lỗ trống quang sinh để tạo thêm gốc HO hVB HO HO (1.11) HO oxi hóa các chất hữu cơ: OH + Chất hữu cơ → O2 + H2O (1.12) Nhƣ đã biết, các electron quang sinh có tính khử rất mạnh còn các lỗ trống quang sinh có tính oxi hóa rất mạnh.
Chúng sẽ tham gia phản ứng với các chất hấp phụ tại bề mặt chất xúc tác nhƣ H2O, ion OH-, các hợp chất hữu cơ hoặc oxi hòa tan để sinh ra gốc tự do HO, tác nhân chính của các quá trình oxi hóa tiên tiến. Tác nhân oxi hoá HO mạnh gấp 2 lần so với clo, và còn mạnh hơn cả O3 là tác nhân oxy hóa rất mạnh thƣờng hay gặp. Có thể so sánh giá trị thế khử chuẩn của HO với một số tác nhân oxi hóa mạnh khác ở Bảng 1. Bản 1 1 T ế c uẩn của một số tác n ân ox oá mạn Tác nhân T ế c uẩn eV Cl2 1,36 HO 2,80 O 2,42 O3 2,08 H2 O2 1,78 Dữ liệu ở Bảng 1.1 cho thấy, gốc HO có khả năng oxi hóa hoàn toàn các chất hữu cơ bền vững, ngoài ra nó còn ƣu việt hơn do tốc độ phản ứng của nó có thể nhanh hơn O3 nhiều lần.
Các thành phần hữu cơ bị oxi hóa theo cơ chế: RH HO R H 2O (1.14) ối với hợp chất chứa nitơ dạng azo, phản ứng oxi hóa quang phân hủy xảy ra theo cơ chế sau: 9 R N N R ' HO R N N R ' OH (1.17) OH+ R → Sản phẩm phân hủy (1.18) Nhƣ vậy, sản phẩm của quá trình phân hủy chất hữu cơ gây ô nhiễm trên hệ xúc tác quang là khí CO2, H2O và các chất vô cơ. Các lỗ trống mang điện tích dƣơng tự do chuyển động trong vùng hóa trị do các electron khác có thể nhảy vào lỗ trống để bão hòa điện tích, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Các electron quang sinh trên vùng dẫn cũng có xu hƣớng tái tổ hợp với các lỗ trống quang sinh trên vùng hóa trị, kèm theo việc giải phóng năng lƣợng dƣới dạng nhiệt hoặc ánh sáng. Quá trình này làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu, nên việc kéo dài thời gian sống của electron và lỗ trống cũng làm tăng hiệu suất xúc tác quang.
o đó, việc pha tạp hoặc ghép các cặp chất với nhau một cách hợp lí là xu hƣớng mà các nhà khoa học hiện nay quan tâm và nghiên cứu [1-17]. Tình hình nghiên cứu liên quan đến vật liệu xúc tác quang 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong thời gian qua, do tính hấp dẫn của công nghệ xử lý nƣớc thải bằng phản ứng xúc tác quang hóa và cùng với xu hƣớng nghiên cứu của thế giới, nhiều nhóm nghiên cứu trong nƣớc, trong đó có nhóm nghiên cứu chúng tôi, đã đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu về việc biến tính TiO2 bằng các nguyên tố kim loại và phi kim loại và các hệ vật liệu lai ghép mới trên cơ sở vật liệu xúc tác truyền thống TiO2, ZnO với các vật liệu thế hệ mới nhƣ iVO4, V2O5, TaON, Ta3N5, g-C3N4, Cu2V2O7, GaN, MoS2, Bi2Sn2O7, CoFe2O4,… hoặc tổ hợp giữa các vật liệu mới nhằm nâng cao vị thế của nhóm vật liệu xúc tác quang trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng. Các nghiên cứu về lĩnh vực tổng hợp vật liệu quang xúc tác trong thời gian qua ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc biến tính các vật liệu truyền thống nhƣ 10 TiO2 và ZnO bằng các kim loại (V, Cu, Fe, Ag) [1-7] hoặc/và phi kim loại (C, N, S) [8-12], lai ghép với các chất bán dẫn khác [19-22] nhằm cải thiện hoạt tính quang xúc tác của chúng đối với sự phân hủy các hợp chất hữu cơ ô nhiễm trong vùng ánh sáng nhìn thấy.
Kết quả thu đƣợc cho thấy tiềm năng ứng dụng của các loại vật liệu này trong lĩnh vực xúc tác quang. Nhiều vật liệu xúc tác quang thế hệ mới đƣợc một vài nhóm nghiên cứu trong nƣớc nghiên cứu, phát triển trong thời gian gần đây bao gồm: BiVO4, Cu2V2O7, GaN, V2O5, MoS2, TaON, g-C3N4, Bi2Sn2O7, CoFe2O4,. Nhìn chung, các loại vật liệu này là những vật liệu có năng lƣợng vùng cấm tƣơng đối hẹp, có khả năng hấp thụ ánh sáng khả kiến tốt. Tuy nhiên, nhƣợc điểm chính của nhóm vật liệu này là sự tái tổ hợp nhanh cặp electron và lỗ trống quang sinh.
Do vậy, các nhà khoa học trong nƣớc đã tiến hành biến tính, lai ghép chúng với các vật liệu khác nhằm gia tăng hơn nữa hiệu quả quang xúc tác của chúng. Nhóm nghiên cứu của Trƣờng ại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội và Trƣờng ại học Tôn ức Thắng đã chế tạo thành công hệ vật liệu lai ghép liên hợp Cu2V2O7/g-C3N4 và vật liệu Ta3N5 biến tính bằng Nb [29, 30] để ứng dụng cho quá trình chuyển hóa CO2 thành nhiên liệu tái sinh và tách nƣớc tạo nhiên liệu H2. Nhóm nghiên cứu của Trƣờng ại học Sƣ phạm Hà Nội đã lai ghép thành công vật liệu MoS2 với g-C3N4; và Bi2Sn2O7 với CoFe2O4 để chế tạo các vật liệu lai ghép MoS2/g-C3N4 và Bi2Sn2O7/CoFe2O4 [24, 28]. Hoạt tính quang hóa phân hủy Rhodamine B (RhB) của vật liệu lai ghép Bi2Sn2O7/CoFe2O4 đạt giá trị cao, sau 180 phút chiếu xạ ánh sáng nhìn thấy thì nồng độ RhB còn lại trong dung dịch khoảng 6%.
Nhóm nghiên cứu của Trƣờng ại học Quy Nhơn đã tổng hợp thành công các hệ vật liệu lai ghép liên hợp gồm: WS2/g-C3N4, GaN-ZnO, Ta3N5/BiVO4, N-Ta3N5, V-TaON, g-C3N4/Ta2O5 và V2O5/TaON [31-37]. Vật liệu thu đƣợc thể hiện hoạt tính cao trong việc phân hủy phẩm xanh metylen và rhodamin B ngay trong vùng ánh sáng khả kiến, cao hơn rất nhiều so với các hợp phần riêng lẻ. Nhóm nghiên cứu của Trƣờng ại học ách Khoa Hà Nội đã có nhiều 11 nghiên cứu về vật liệu xúc tác quang truyền thống nhƣ biến tính TiO 2 và ZnO bằng Ag, u [38-40], hoạt tính xúc quang xúc tác của vật liệu biến tính là cao hơn so với TiO2 và ZnO thuần. ồng thời các vật liệu mới cũng đã đƣợc quan tâm nghiên cứu nhƣ: MnO2 cố định trên giá thể silica sinh học, pha tạp vào dS, vật liệu composite ZnS/ZnO, NaTaO 3 đƣợc đồng pha tạp La/ i bằng phƣơng pháp thủy nhiệt ở nhiệt độ thấp, vật liệu siêu từ tính Fe 3O4–Ag ứng dụng trong diệt khuẩn, các vật liệu trên cơ sở bimut iVO 4, BiWO6,… đều có hoạt tính quang xúc tác cao trong vùng ánh sáng nhìn thấy [41-48].
Ví dụ, kết quả đồng pha tạp La/Bi vào NaTaO 3 cho thấy, kích thƣớc hạt của NaTaO 3 pha tạp bởi La/Bi là nhỏ hơn so với NaTaO3 tinh khiết, việc đồng pha tạp La/ i vào NaTaO3 đã mở rộng khả năng hấp thụ quang trong vùng ánh sáng khả kiến, dẫn đến hoạt tính xúc tác của NaTaO 3 pha tạp là cao hơn so với NaTaO3 tinh khiết thông qua phản ứng phân hủy xanh metylen.