Chương 1: Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa và sự xuất hiện của Nguyễn Linh Khiếu. Chương 2: Các bình diện văn hóa trong trƣờng ca “Phồn sinh” của Nguyễn Linh Khiếu. Chương 3: Ngôn ngữ và biểu tƣợng trong thơ Nguyễn Linh Khiếu qua trƣờng ca Phồn sinh. 14 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 TIẾP CẬN VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN LINH KHIẾU 1.
Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc. Nói cách khác văn hóa là đời sống tinh thần của xã hôi, là giá trị truyền thống, lối sống và là bản sắc của một dân tộc, là cái phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa đƣợc vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc ta từ thời dựng nƣớc là lịch sử không ngừng đấu tranh chống ngoại xâm để giành và giữ nền độc lập, tạo nên phẩm chất cao cả và thiêng liêng của bản sắc văn hóa dân tộc.
Đó là tình yêu nƣớc thƣơng nòi. Văn hóa là sản phẩm do con ngƣời sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài ngƣời. Ở phƣơng Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa: Xem dáng vẻ con ngƣời, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ).
Ngƣời sử dụng từ văn hóa con ngƣời - văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây đƣợc dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết). Ở phƣơng Tây, để chỉ đối tƣợng mà chúng ta nghiên cứu, ngƣời Pháp, ngƣời Anh có từ culture, ngƣời Đức có từ kultur, ngƣời Nga có từ kultura. Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự 15 nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên và họ có những phẩm chất tốt đẹp.
Tuy vậy, việc xác định và sử dụng văn hóa không đơn giản và thay đổi theo thời gian. Thuật ngữ văn hóa với nghĩa “canh tác tinh thần” đƣợc sử dụng vào thế kỉ XVII-XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp. Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” đƣợc những nhà nhân loại học phƣơng Tây sử dụng nhƣ một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất và văn hóa hƣớng về trí lực và sự vƣơn lên, sự phát triển tạo thành văn minh; E.B Taylor là đại diện của họ.
Theo ông văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con ngƣời có đƣợc với tƣ cách là một thành viên của xã hội. Ở thế kỉ XX, khái niệm “văn hóa” thay đổi theo F.Boas, ý nghĩa văn hóa đƣợc quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu nhƣ “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tƣơng đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ cao thấp mà ở góc độ khác biệt.L Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã đƣợc đúc kết và truyền lại bằng biểu tƣợng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do cong ngƣời làm ra.
Phan Ngọc đƣa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trƣớc đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận: “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân 16 khác.
Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”. Văn hóa đã tồn tại từ bao nghìn năm còn văn hóa học thì mới đƣợc hình thành và phát triển ở thế kỉ XX. Khoảng đầu thế kỷ XX, thuật ngữ văn hóa học mới xuất hiện [tiếng Anh: Culturology], với nghĩa khoa học nghiên cứu về văn hóa.
Và gần đây, văn hóa học đƣợc chú một cách đặc biệt. Thậm chí ngƣời ta còn nói đến sự “bùng nổ” của văn hóa học ở cuối thế kỷ XX. Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, ngƣời ta ngày càng chú ý đến vai trò của văn hóa trong sự phát triển xã hội con ngƣời, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Ở đây, tôi muốn nói đến vai trò của văn hóa trong việc nghiên cứu văn học, đến việc vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lý giải văn học.
Xu hƣớng này mới xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XX và cho đến nay đang đƣợc hƣởng ứng rộng rãi. Một trong những ngƣời khởi xƣớng cho xu hƣớng tiếp cận văn học bằng văn hóa học là Mikhail M.Bakhtin, giáo sƣ văn học ngƣời Nga thuộc Đại học Saransk. Bakhtin quan niệm rằng: “Trƣớc hết, khoa nghiên cứu văn hóa học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại.
Không đƣợc tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa, cũng nhƣ không đƣợc nhƣ ngƣời ta vẫn làm là trực tiếp gắn nó với các nhân tố xã hội - kinh tế, vƣợt qua đầu văn hóa. Những nhân tố xã hội - kinh tế tác động toàn bộ tới văn hóa nói chúng, và chỉ thông qua văn hóa, mới tác động đƣợc tới văn học. Đây là quan điểm đề cao vai trò của văn hóa. Tuy nhiên, lập luận của Bakhtin cũng vẫn lập luận một điều không hợp lí: ông khẳng định “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa” nhƣng ông lại cho rằng nó chỉ nhận đƣợc tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội 17 thông qua văn hóa.
Nếu nhƣ thế thì văn hóa sẽ là một cấp đứng giữa văn học và xã hội chứ không phải là nó đứng ở cùng một cấp độ với văn học mà mang tƣ cách là một bộ phận của văn hóa nhƣ ông tuyên bố. Trên thực tế, không thiếu gì các trƣờng hợp trong đó văn học chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế - xã hội. Theo tôi, việc đề cao vai trò của văn hóa là không có gì sai nhƣng phải nhìn nhận rằng mối quan hệ trực tiếp giữa văn hóa với văn học hay văn học với kinh tế - xã hội là những mối quan hệ không ngoại trừ lẫn nhau. Văn học vừa có thể có quan hệ trực tiếp với kinh tế xã hội vừa có quan hệ trực tiếp đến văn hóa, thậm chí cả chính trị.
Đó là những phƣơng diện hoàn toàn khác nhau, có sự độc lập tƣơng đối với nhau. Mặc dù vậy, ý kiến của Bakhtin vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh văn hóa đối với văn học. Và thành tựu chính về phƣơng pháp luận của Bakhtin là nằm ở khâu thực hành. Năm 1940 ông đã viết một công trình để rồi đến năm 1965 (sau 25 năm) nó mới đƣợc xuất bản: Sáng tác của Francois Rabelais với văn hóa dân gian Trung đại và Phục hưng.
Ở công trình này, lần đầu tiên Bakhtin đã đƣa ra cái nhìn văn hóa để phân tích và lý giải tác phẩm Phục hƣng Pháp Rabelais. Ông cho rằng Rabelais là đỉnh cao của xu hƣớng phi chính thống trong việc các sáng tác dân gian xâm nhập vào văn học cao cấp. Các yếu tố văn hóa nhƣ lễ hội, hội hè dân gian đã tạo cho sáng tác của Rabelais có một vị trí độc đáo trong văn học cuối thời kì trung đại, thách thức với địa vị chính thống của dòng văn học phục vụ thần quyền và quân chủ thời bấy giờ. Cuốn sách của Bakhtin đã có ảnh hƣởng lớn đến giới phê bình văn học phƣơng Tây.
Cũng vì ông dùng văn hóa để lý giải tác phẩm cho nên có thể nói đây là một trong những bƣớc mở đầu khởi nguồn cho “Phương pháp văn hóa học”. Nguyên tắc của phƣơng pháp này là đi tìm ảnh hƣởng không chỉ của văn hóa đƣơng thời đối với văn học mà còn truy nguyên đến cả các truyền thống văn hóa xa xƣa của cộng đồng. 18 Theo nhà nghiên cứu Phùng Thanh Nga trong bài viết “Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa - một số xu hướng chính ở Việt Nam” đã cho rằng: Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ở Việt Nam không phải là vấn đề của đƣơng đại mà thực tế đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu văn học triển khai, vận dụng trong đó có hai xu hƣớng chính: nghiên cứu tự nghiệm và giới thiệu, nghiên cứu trên nền tảng lý thuyết phƣơng Tây. Nghiên cứu tự nghiệm là nghiên cứu gắn với các hiện tƣợng văn học cụ thể, từ cái cụ thể mà nâng thành khái quát.