Chương 1 LƯỢC KHẢO VỀ DÂN TỘC DAO VÀ VĂN BẢN CHỮ NÔM DAO HIỆN LƯU GIỮ TẠI VIỆN NGIÊN CỨU HÁN NÔM Trong chương này, chúng tôi giới thiệu khái quát về xã hội, con người và văn hóa của dân tộc Dao ở Việt Nam và giới thiệu các văn bản viết bằng chữ Nôm của người Dao hiện lưu giữ tại VNCHN. Giới thiệu về dân ca nghi lễ của người Dao 1. Vài nét về dân tộc Dao Việt Nam Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, dân tộc Dao ở miền Bắc Việt Nam sống rải rác ở các vùng sâu vùng xa, làm nương rẫy, họ thường sống tập trung thành từng làng, từng bản và xen kẽ cùng các dân tộc Mông, Tày, Nùng. Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, theo chủ trương chính sách định canh định cư của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam, người Dao đã có những thay đổi đáng kể trong lối sống định canh định cư và có cuộc sống ngày càng phát triển.
Về nguồn gốc của người Dao Việt Nam, tác giả Nguyễn Thế Nam (2009) Viện Nghiên cứu Tôn giáo trong bài viết Quá sơn bảng văn - câu chuyện về nguồn gốc người Dao đăng trong Thông báo Hán Nôm học, cho rằng người Dao Việt Nam cho rằng mình là con cháu của Bàn Vương, là anh em với người Dao ở Trung Quốc. Theo sách Người Dao ở Việt Nam do Nxb. Khoa học xã hội xuất bản năm 1971, có hai giả thuyết về gốc tích của người Dao lưu truyền ở Trung Quốc: Can Bảo (thế kỷ 3 trước công nguyên) cho rằng “nguồn gốc của người Dao là Khuyển Nhung đời Chu ở vùng Thiểm - Cam - Ninh” [41, tr. 11 Phạm Thành Đại giả định “người Dao vốn dòng dõi Bàn Hồ và nơi cư trú cổ của họ là đất Ngũ Khê, tức là nơi tiếp giáp giữa Hồ Nam và Qúy Châu” [41, tr.
Khuất Đại Quan cho rằng “nguồn gốc người Dao là Mân Việt thời Hán sơ ở vùng Chiết Giang, Phúc Kiến và phía đông Giang Tây” [41, tr. Từ Tùng Thạch đoán định “nơi ở xưa của người Dao là đất Giang - Chiết - Cống - Mân” [41, tr. Như vậy đa phần đều đoán định rằng người Dao có gốc từ Bàn Vương và nằm trong khối Bách Việt ở miền Hoa Nam. Khoảng thế kỷ VIII, nhóm Mông - Dao tách làm hai bộ phận; người Mông dạt về phía Tây, cư trú khắp miền Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam; người Dao đi tới vùng núi phía Đông bao gồm Lưỡng Quảng.
Đến thế kỷ IX mới xuất hiện tên gọi Miêu và Dao trong lịch sử Trung Hoa. Người Dao sang Việt Nam từ khi nào, cũng có rất nhiều thuyết và ý kiến khác nhau: Năm 1933, Tòa công sứ Pháp tỉnh Yên Bái biên soạn cuốn Tỉnh Yên Bái hiện nay ước đoán: “Người Mán hình như đến ở giữa vùng dân tộc Thái đã được bốn thế kỷ” [37, tr. Báo cáo của Đoàn nghiên cứu tình hình dân tộc Khu Tây Bắc được Khu ủy Tây Bắc thông qua ngày 1-4-1945, đã đề cập đến tình hình người Dao di dân sang Việt Nam là từ hồi quân Minh xâm chiếm nước ta: “Huyện ủy Mộc Châu cho biết, đồng bào Dao sang Việt Nam từ hồi quân Minh xâm chiếm nước ta. Ngày ấy, đồng bào theo quân Minh về tận trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Sau quân Minh bị ta đánh đuổi về Trung Quốc, đồng bào phiêu dạt lên Tây Bắc” [24, tr. 12 Có nhiều ghi chép, nghiên cứu về nguồn gốc và việc di dân của người dân ở Việt Nam. Song chưa thể có tư liệu khoa học cụ thể để khẳng định chắc chắn về nguồn gốc và sự di cư của người Dao ở Việt Nam như thế nào. Người Dao ở Việt Nam được chia thành các ngành Dao chính: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Quần Trắng, Dao Tuyển… Mỗi một nhóm Dao có đặc trưng riêng, chịu ảnh hưởng của văn hóa vùng miền.
Nhưng tựu chung lại họ vẫn mang nhiều đặc điểm chung về ngôn ngữ và tiếng nói. Về ngôn ngữ và văn tự, tất cả các nhóm Dao đều nói chung một thứ tiếng là tiếng Dao. Ngôn ngữ Dao ngày càng phong phú do được bổ sung tiếng Quốc ngữ - tiếng Việt trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học. Giáo dục phổ cập và giáo dục nâng cao thống nhất được thực thi đến vùng sâu vùng xa heo hút, do vậy chữ La tinh - phiên bản tiếng dân tộc chiếm ưu thế trong hệ thống chữ viết của người Dao.
Song bên cạnh đó, người Dao vẫn sử dụng chữ Nôm trong việc ghi chép lại các văn bản, ghi chép về các hoạt động trong đời sống sinh hoạt thường ngày của họ. Người Dao hiện còn lưu giữ rất nhiều văn bản viết bằng chữ Nôm Dao này. Thông qua văn bản, phản ánh đời sống sinh hoạt, văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của họ. Các văn bản này như những món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày.
Giới thiệu về dân ca nghi lễ của người Dao Người Dao thường sống chan hòa, đoàn kết với nhau,họ rất coi trọng việc thờ cúng, tổ chức các nghi lễ. Trong một năm họ thường tổ chức các lễ hội, qua đó thực hành nghi lễ cúng tế như: Lễ cấp sắc, Lễ cúng cơm mới, Lễ hội Bàn Vương, Lễ cúng tổ tiên… Lễ hội Bàn Vương: Bàn Vương 盤王 tiếng Dao là Puồn uầng, là lễ hội đặc sắc của cộng đồng người Dao, được phục dựng và tổ chức hàng năm tại các địa phương có người Dao sinh sống, nhằm bảo tồn và phát huy những giá 13 trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Dao. Ở buổi lễ, các nghệ nhân dân gian tiến hành nghi thức cúng tế, các nghệ nhân dân gian đã trình diễn điệu múa bắt rùa, một điệu múa phổ biến trong sinh hoạt văn hóa của dân tộc Dao. Lễ hội Bàn Vương nhằm ca ngợi công lao của Bàn Vương, ông tổ người Dao cũng như giới thiệu nét văn hóa đặc sắc, thông qua đó quảng bá tiềm năng du lịch của địa phương đến khách du lịch trong và ngoài nước.
Lễ hội cấp sắc: Cấp sắc 給敕 tiếng Dao gọi là Chấu đàng, là lễ đặt tên cho con trai của người Dao, diễn ra trong 2 đêm 3 ngày. Buổi lễ đánh dấu sự trưởng thành cho người con trai trong gia đình. Người con trai trong gia đình người Dao, khi được làm lễ cấp sắc sẽ được công nhận là con cháu người Dao. Lễ cấp sắc là nghi lễ cúng đặc sắc trong văn hóa của các gia đình và họ hàng người Dao có con trai.
Lễ cấp sắc của người Dao khác với lễ cấp sắc của người Tày ở chỗ: lễ cấp sắc của người Dao là công nhận sự trưởng thành của người con trai trong gia đình và nghi lễ chỉ được thực hiện cho người con trai; còn lễ cấp sắc của người Tày là một nghi lễ khẳng định tiêu chuẩn và trình độ cúng lễ của thầy Then, công nhận làm thầy Then ở các mức khác nhau. Lễ cúng cơm mới: Lễ mừng cơm mới là lễ hội đặc sắc trong văn hóa của các dân tộc vùng núi phía Bắc như : người Dao, người Thái, người Xá Phó, người Mông,. Lễ cúng cơm mới của người Dao được tổ chức vào tháng 10 âm lịch hàng năm, khi nhà nhà lúa đã vào bồ, bữa cơm gia đình đã thơm mùi gạo mới, các gia đình người Dao lại tổ chức cúng cơm mới, để tạ ơn tổ tiên, tạ ơn Bàn Vương đã phù hộ cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ cúng tổ tiên của người Dao, vào dịp lễ tết, hay thời điểm trọng đại trong năm người Dao đều tổ chức nghi lễ cúng tổ tiên.
Với mong muốn tổ tiên phù hộ độ trì, đem lại may mắn hạnh phúc cho con cháu. Đối với người Dao việc thờ cúng tổ tiên là việc quan trọng, mà bất cứ gia đình người Dao nào 14 cũng phải thực hiện. Lễ vật cúng tổ tiên thường gồm rượu, thịt lợn, thịt gà và cúng cáo (là đồ vật xin âm dương của người Dao), để xin tổ tiên đồng ý, và cầu mong sự tốt lành may mắn cho cả năm đối với người Dao. Bên cạnh các nghi lễ cúng tế của người Dao, thì dân ca cũng là một hình thức thể hiện giúp người Dao đoàn kết, gắn bó và yêu thương nhau hơn.
Hát chèo và hát Páo dung là hai hình thức dân ca tiêu biểu của người Dao, đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc trong lao động sản xuất đối với họ. Hát chèo [21] là hình thức hát được sử dụng trong lễ cấp sắc của người Dao. Trong lễ cấp sắc, khi việc cúng tế diễn ra xong, thì những người đàn ông Dao vừa múa vòng quanh, vừa hát chèo để thể hiện sự vui mừng, niềm hạnh phúc khi việc cúng tế tốt đẹp. Những người đàn ông Dao tay cầm que dài khoảng 30 đến 45 cm, nhìn như chiếc gậy chèo thuyền, vừa múa theo nhịp, vừa hát tạo thành một vòng tròn, khi múa những người nam xoay nửa vòng bên phải, sau đó xoay nửa vòng bên trái, rồi xoay một vòng bên phải và nhún chân theo nhịp trống, chiêng.
Hát chèo là phong tục thấm đậm vào máu thịt của người Dao, hun đúc nên tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào về dân tộc mình. Hát Páo dung là hình thức hát đối đáp giữa người con trai và con gái dân tộc Dao, kể về số phận người phụ nữ, hoặc ca ngợi vẻ đẹp của núi sông, tình yêu quê hương đất nước của người Dao. Páo dung thường được hát trong dịp lễ hội, lễ cấp sắc của người Dao. Hát Páo dung trong lễ cấp sắc, kể về ma nhà, về những lí do mà gia đình người Dao tổ chức lễ cấp sắc muộn như: ở gia đình người Dao đàn gà không được đẹp, con cháu không được lớn, khất ma nhà, có 2 thầy đến uống trà, khất năm nào con lớn, lợn gà cơm gạo có đủ thì mới làm lễ cấp sắc.
Hát Páo dung chính là bày tỏ mong muốn, khát vọng của người Dao trong cuộc sống, trong gia đình và trong cộng đồng Dao. Khảo sát văn bản chữ Nôm Dao lưu giữ tại VNCHN 1. Tình hình văn bản chữ Nôm Dao hiện lưu giữ tại VNCHN Tại VNCHN hiện lưu giữ khoảng hơn 10.000 đơn vị sách Hán Nôm dân tộc thiểu số, căn cứ vào bộ Thư mục đã giới thiệu tóm lược được 4.364 đơn vị sách và bước đầu chúng tôi sưu tập được 18 văn bản Nôm Dao. Bộ Thư mục đã đóng góp rất nhiều giá trị văn hóa to lớn, giới thiệu, sưu tầm và bảo tồn những văn bản của các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam như: Tày, Nùng, Dao, v.