CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn 1. Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn trong hệ thống phân loại động vật Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16] cho biết: Ở lợn, cho đến nay đã phát hiện được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng ký sinh.
Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột lợn do Fasciolopsis buski,. Những bệnh này đã gây ra các tổn thương và viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không bệnh. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] cho biết: Lớp giun tròn thuộc ngành giun tròn Nemathelminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện sinh thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu. Phần lớn giun tròn sống tự do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật.
Trong khu hệ giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam đã thống kê được 90 loài giun tròn. Tổng hợp nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], Chu Thị Thơm và cs (2006) [31], Phan Lục và cs (2006) [22] cho rằng: có hơn 5.000 loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có gần 2.000 loài giun tròn sống tự do, hơn 3.000 loài giun tròn sống ký sinh. Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ: + Bộ phụ giun đũa (Ascaridata) + Bộ phụ giun kim (Oxyurata) + Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata) + Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata) + Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata) + Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata) e 4 + Bộ phụ giun chỉ (Filariata) + Bộ phụ Dioctophymata Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được sắp xếp theo vị trí như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chit wood, 1993 Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skjabin et Schulz, 1928 HọTrichocephalidea Bard, 1953 Phân họTrichocepphalus Ransomi, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788 Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum, (Rudolphi, 1803) Loài Oesophagostomum brevicaudatum (Shwartz et Alicata, 1930) Loài Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925) Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933 Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879 Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856) Loài Strongyloides ransomi (Schwartz et Alicata, 1930) Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Ascaris Linacus, 1758 Giống Ascaris Linnaeus, 1758 e 5 Loài Ascaris suum Goeze, 1782 1. Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [17] cho biết, thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn gồm: TT Loài Vị trí ký sinh 1 Trichocephalus suis Schrank, 1788 Ruột già 2 Ascaris suum Goeze, 1782 Ruột non Gnathostoma dororesi Tubangui,1925 3 Dạ dày Gnathostoma hispidum Fedtschenko, 1872 4 Strongyloides papillosus Wedl, 1856 Ruột non 5 Strongyloides ransomi Schwartz et Alicata, 1930 Ruột non Ruột già, 6 Pseudocruzia orientalis Maplestoue, 1930 manh tràng 7 Globocephalus longgemucronatus Molin, 1861 Ruột non 8 Raillietostrongylus samoensis Lane, 1922 Ruột non Oesophagostomum dentatum (Rudolphi, 1803) Oesophagostomum brevicaudatum (Shwarts et 9 Ruột già Alicata,1930) Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925) 10 Baurgelatia diducta Railliet, Henry et Bauche, 1919 Ruột Nguyễn Thị Lê (1998) [20] cho rằng: Giun tròn ký sinh gây bệnh nguy hiểm cho người, động vật chủ yếu gồm các đại diện thuộc các bộ sau: Trichocephaliada, Strongyloidida, Oxyurida, Ascaridida, Spirurida.
Đặc điểm của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn 1. Đặc điểm chung của giun tròn * Hình thái và cấu tạo giun tròn Chu Thị Thơm và cs (2006) [31], Phan Lục và cs (2006) [22], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10] đã mô tả hình thái và cấu tạo giun tròn như sau: Giun tròn thuộc lớp Nematoda, ngành Nemathelminthes, cơ thể hình ống, hình sợi nhưng hai đầu thon nhỏ dần hoặc hình ống phân thuỳ, cơ thể hình thoi, e 6 hình tròn, hai bên đối xứng có mặt lưng và mặt bụng không phân đốt. Đầu tù, đuôi nhọn, có giun đực và giun cái. Giun cái lớn hơn giun đực, giun đực đuôi cong, giun cái đuôi thẳng.
Kích thước giun thay đổi tuỳ loài. Giun tròn thường có môi, gai, xoang miệng. Một số loài giun tròn có túi đuôi, cơ thể giun thường được bao bọc bằng lớp vỏ ngoài (cuticun) dày. Trên lớp vỏ này có những vân ngang, dọc, giác, móc và các cấu tạo phụ khác.
Thành phần của lớp vỏ gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn chịu đựng khoẻ với hoá chất, dịch tiêu hoá và có chức năng như áo giáp để bảo vệ giun. Lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp. Những giun ký sinh đường tiêu hoá có từ 7 - 10 lớp (lớp vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiến trong, lớp hình băng dải, lớp bazan, lớp mang bazan, lớp nhiều thớ sợi, màng kéo bazan). Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di chuyển được.
Sau lớp cơ có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất của giun. Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang cơ thể có chứa các khí quan: + Hệ tiêu hoá: Giun tròn có hệ tiêu hoá khá hoàn chỉnh. Có một ống dài chạy dọc theo thân gồm: môi, miệng, thực quản, ruột, trực tràng và tận cùng là hậu môn. + Hệ bài tiết: Gồm có hai ống bắt nguồn từ phía sau và hợp lại ở phía trước rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản.
+ Hệ thần kinh: Gồm có một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra nhiều nhánh thần kinh đi về phía trước và sau tới các phần của cơ thể. Có nhiều nhánh nhỏ nối với các nhánh chính này. Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằm trong các gai ở đầu, cổ, thân giun đó là các gai cảm giác. + Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt).
Bộ phận hô hấp và tuần hoàn: không có (hô hấp yếm khí), vì sống trong môi trường yếm khí. *Vòng đời của giun tròn: Giun tròn có thể đẻ trứng (giun đũa, giun tóc) hoặc đẻ ra ấu trùng (giun xoắn, giun chỉ). Ở ngoại cảnh, trứng và ấu trùng này phải có thời gian phát triển thành trứng hoặc ấu trùng gây nhiễm. Ấu trùng phải trải qua hai lần lột xác thì thành ấu e 7 trùng gây nhiễm.
Quá trình lột xác như sau: dưới lớp biểu bì cũ sinh ra một lớp biểu bì mới, rồi lớp biểu bì cũ thay thế lớp biểu bì mới (có loài vẫn giữ lớp biểu bì cũ tạo thành màng bọc ấu trùng, giúp nó chống đỡ với điều kiện ngoại cảnh bất lợi). Trứng sau khi được thụ tinh, trong trứng tiếp tục phát triển từ một phôi bào thành nhiều phôi bào, hình quả dâu, hình ấu trùng giun và hình thành ấu trùng giai đoạn I, sau đó lột xác lần 1 thành ấu trùng giai đoạn II, sau lột xác lần 2 thành ấu trùng giai đoạn III, sau lột xác lần 3 thì ấu trùng giai đoạn IV được hình thành, sau lột xác lần 4, ấu trùng biến thành giun tròn dạng trưởng thành, ký sinh trong vật chủ. Lần lột xác 3, 4 thường xảy ra trong vật chủ cuối cùng. Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19]: Đa số giun tròn đẻ trứng, một số loài đẻ ấu trùng.
Trứng được bao bọc trong nhiều lớp vỏ, vỏ ngoài phẳng hoặc lồi lõm, ở một số loài trứng có nắp ở hai cực. Trứng hoặc ấu trùng của giun tròn được thải ra môi trường ngoài cùng với phân, đờm, nước tiểu và nước mắt của gia súc (tùy loài giun). Chu kỳ sống của giun tròn rất đa dạng, một số phát triển trực tiếp nghĩa là không thay đổi vật chủ, một số phát triển gián tiếp, gọi là giun tròn ký sinh sinh học. * Sức đề kháng của giun tròn: Phạm Văn Khuê và cs (1996) [9] cho biết: Trứng giun đũa khi thải qua phân đã có phôi.
Trứng tiếp tục phát triển phụ thuộc vào áp lực oxy, nhiệt độ, ẩm độ, môi trường. Ở vùng khô lạnh trứng có thể sống trên 6 năm. Nuôi trong phòng thí nghiệm trứng phát triển thành phôi thai bình thường trong dung dịch formol 2%. Theo Soulsby (1965), dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp trứng bị diệt trong một vài tuần.
Theo Phạm Chức (1980), trứng giun đũa phát triển bình thường trong axit axetic và axit lactic 20% nhưng axit pitric đặc có thể dung giải vỏ kitin. Trứng bị phá huỷ trong NaOH 10% ở 700C trong vòng 15 - 20 phút. Formalin 10% làm cho trứng không nở và ấu trùng trở nên không có khả năng gây nhiễm. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10] cho biết, trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học như Formol 2%, Creolin 3%, H2SO4, NaOH 2%.
e 8 Ở nhiệt độ 45 - 500C chết trong nửa giờ, nước nóng 600C diệt trứng trong 5 phút, nước 700C chỉ cần 1 - 10 giây. Vì vậy, ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa. Trứng giun lươn có sức đề kháng yếu, ở nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển. Ở trên 500C và -90C trứng bị chết.
Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn. Sức đề kháng của giun kết hạt: ở nhiệt độ 5 - 90C trứng ngừng phát triển, ở nhiệt độ 350C trứng bị chết. Gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm trên dưới một tuần. Theo Phạm Sỹ Lăng (1997) [14], ấu trùng Oesophagostomum dentatum có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, để ở -190C → -290C qua 10 ngày vẫn sống và sẽ chết cũng để ở nhiệt độ -190C → -290C đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm.
Ấu trùng rất nhạy cảm với khô ráo. Đặc điểm hình thái kích thước của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn 1. Giun đũa lợn (Ascaris suum) Theo các tác giả Trịnh Văn Thịnh (1977) [29], Đào Trọng Đạt và cs (1995) [5], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [17] thì: giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris suum ký sinh ở ruột non lợn: giun màu trắng sữa.