lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm ba chương: - Chƣơng 1: Tổng quan về ZnS:Mn - Chƣơng 2: Một số phƣơng pháp chế tạo ZnS, ZnS:Mn và thiết bị thực nghiệm - Chƣơng 3: Kết quả thực nghiệm và biện luận Bộ môn Quang Lượng tử - Khoa Vật lý 3 z Trương Thị Luyến Luận văn Thạc sĩ CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ZnS VÀ ZnS:Mn 1. Cấu trúc tinh thể của ZnS ZnS là hợp chất bán dẫn thuộc nhóm A2B6 có độ rộng vùng cấm tương đối rộng (Eg = 3.68 eV ở 300 K) đối với mẫu khối [1], 3.9 đối với mẫu nano, rất thích hợp cho việc đưa chất kích hoạt vào để tạo ra bột huỳnh quang với bức xạ trong vùng nhìn thấy và vùng hồng ngoại gần. Trong ZnS các nguyên tử Zn và S có thể liên kết dạng hỗn hợp: ion (77%) và cộng hoá trị (23%). Trong liên kết ion thì ion Zn2+ có cấu hình điện tử lớp ngoài cùng là 3s2p6d10 và S2- có cấu hình điện tử lớp ngoài cùng là 2s2p6.
Trong liên kết cộng hoá trị, do phải đóng góp chung điện tử nên nguyên tử Zn trở thành Zn2- có cấu hình điện tử: 4s1p3 và S trở thành S2+ có cấu hình là : 3s1p3 [2]. Các nguyên tử Zn và S liên kết với nhau theo một cấu trúc tuần hoàn, tạo thành tinh thể. Tinh thể ZnS có hai cấu hình chính là mạng tinh thể lập phương sphalerite (hay zinblende) và mạng tinh thể lục giác (hay wurtzite). Tuỳ thuộc vào nhiệt độ nung mà ta thu được ZnS có cấu hình sphalerite hay wurtzite.
Ở nhiệt độ nung từ dưới 9500C ta có ZnS dưới dạng sphalerite, nhiệt độ từ 9500C đến trên 10200C thì có khoảng 70% ZnS dưới dạng wurtzite. Nhiệt độ từ 10200C đến 12000C thì ZnS hoàn toàn dưới dạng wurtzite. Người ta gọi nhiệt độ 10200C là nhiệt chuyển pha cấu hình mạng tinh thể ZnS bởi vì tại nhiệt độ này sự chuyển pha từ hai cấu trúc sphalerite và wurtzite xảy ra [3]. Nhưng ta không thể xác định được khoảng nhiệt độ ổn định cho từng dạng cấu hình cụ thể của tinh thể.
Dù ở dạng cấu trúc sphalerite hay wurtzite thì nguyên tử Zn (hoặc S) đều nằm ở tâm tứ diện tạo bởi 4 nguyên tử S (hoặc Zn). Cấu trúc vi mô này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tính chất quang của các tâm. Cấu trúc mạng tinh thể lập phương sphalerite hay zinblende Cấu trúc dạng lập phương được xác định trên cơ sở quy luật xếp cầu của hình lập phương với các đỉnh là nguyên tử B (S) được ký hiệu là. Các nguyên tử A (Zn) được ký hiệu là định hướng song song với nhau [5] (hình 1.
Bộ môn Quang Lượng tử - Khoa Vật lý 4 z Trương Thị Luyến Luận văn Thạc sĩ Hình 1.1: Cấu trúc sphalerite của tinh thể ZnS [5] Nhóm đối xứng không gian của sphalerite là Td2 F 43m. Ở cấu trúc sphalerite, mỗi ô mạng nguyên tố có 4 phân tử A2B6 (ZnS). Mỗi nguyên tử A (Zn) được bao quanh bởi 4 nguyên tử B (S) được đặt trên các đỉnh của tứ diện ở cùng khoảng cách a 3 , trong đó a là hằng số mạng (a = 5. Ngoài ra bất kỳ một nguyên tố nào 4 thuộc cùng một loại cũng được bao quanh bởi 12 nguyên tử cùng loại đó ở khoảng a cách 2 , trong đó 6 nguyên tử đặt ở lục giác nằm trên cùng một mặt phẳng, còn 6 2 nguyên tử còn lại tạo thành một phản lăng kính tam giác.
Nếu đặt các nguyên tử của một nguyên tố B (S) ở các nút mạng lập phương, tâm mạng có toạ độ cầu là 0,0,0 thì các nguyên tử của nguyên tố kia tại các nút mạng của tinh thể sphalerite này nhưng 1 1 1 với nút mạng đầu có tọa độ , , . Khi đó: 4 4 4 Bộ môn Quang Lượng tử - Khoa Vật lý 5 z Trương Thị Luyến Luận văn Thạc sĩ + Có 4 nguyên tử B (S) ở các vị trí : 0,0,0 ; 1, 1 , 1 ; 1 ,0, 1 ; 1 , 1 ,0 2 2 2 2 2 2 + Có 4 nguyên tử A (Zn) ở các vị trí: 1 1 1 1 3 3 3 1 3 3 3 1 , , ; , , ; , , ; , , 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 1. Cấu trúc mạng tinh thể lục giác hay wurzite Khi 2 tứ diện cạnh nhau được định hướng sao cho các đáy tam giác song song với nhau thì sẽ tạo thành tinh thể có cấu trúc lục giác hay wurtzire (hình 1. Cấu trúc dạng wurtzire được xây dựng trên quy luật xếp cầu theo hình 6 cạnh của các nguyên tử B (S) được ký hiệu là trong đó một nửa số hỗng 4 mặt chứa nguyên tử A (Zn) được ký hiệu là định hướng song song với nhau [5].2: Cấu trúc wurtzire của tinh thể ZnS [5] Hình 2.4: Máy rung siêu âm Bộ môn Quang Lượng tử - Khoa Vật lý 6 z Trương Thị Luyến Luận văn Thạc sĩ Nhóm đối xứng không gian của cấu trúc lục giác là C64v p63 mc.
Ở cấu trúc wurtzite, mỗi mạng nguyên tố chứa 4 phân tử A2B6 (ZnS). Tọa độ của mỗi nguyên tử A được bao quanh bởi 4 nguyên tử B đặt trên các đỉnh tứ diện ở cùng khoảng cách [a2/3+c2(u-1/2)2]1/2, trong đó a là hằng số mạng, u là hằng số mạng dọc trục z. Ngoài ra mỗi loại cũng được bao bọc bởi 12 nguyên tử cùng loại đó, trong đó có 6 nguyên tử ở đỉnh của một lục giác nằm trong cùng một mặt phẳng với nguyên tử ban đầu và cách nó một khoảng là a, 6 nguyên tử kia ở đỉnh mặt lăng trụ có đáy là một tam diện ở khoảng cách bằng [a2/3+c2/4]1/2. Các tọa độ của nguyên tử A (Zn) là (0,0,0); (1/3,2/3,1/2) và các tọa độ của nguyên tố B (S) là (0,0,4); (1/3,2/3,1/2+u).1 : Các thông số mạng tinh thể của một số hợp chất thuộc nhóm A2B6 [5] Nhóm đối Hằng số mạng Hợp Loại cấu trúc xứng không chất tinh thể a=b (Ao) c (Ao) u (Ao) c/a gian 2 Lập phương F 4 3m( Td ) 5.6360 Lục giác P63mc( C )4 6v 3.8200 2 Lập phương F 4 3m( Td ) 4.6020 Lục giác P63mc( C )4 6v 3.2495 2 Lập phương F 4 3m( Td ) 5.6230 Lục giác P63mc( C )4 6v 4.1360 2 Lập phương F 4 3m( Td ) 6.6270 Lục giác P63mc( C )4 6v 4.5700 2 Lập phương F 4 3m( Td ) 5.6310 Lục giác P63mc( C )4 6v 4.0100 Bộ môn Quang Lượng tử - Khoa Vật lý 7 z Trương Thị Luyến Luận văn Thạc sĩ 1.
Ảnh hưởng của Mn lên cấu trúc tinh thể và hằng số mạng của tinh thể ZnS Bằng thực nghiệm người ta thấy rằng đối với đa số các hợp chất bán dẫn vùng cấm rộng khi tăng nồng độ tạp chất trong một khoảng nào đó thì độ rộng vùng cấm của chúng tăng [1]. Tuy nhiên đối với bán dẫn bán từ ZnS pha tạp Mn, Co … khi tăng nồng độ tạp chất độ rộng vùng cấm bị giảm một chút xuống cực tiểu sau đó mới tăng khi tăng tiếp tục nồng độ tạp chất. Nguyên nhân của hiện tượng này là do tương tác giữa các điện tử dẫn và các điện tử 3d của các ion từ (gọi là tương tác trao đổi s-d). Để giải thích hiệu ứng trật tự từ liên quan đến tương tác trao đổi s-d R.
Lascarg đã dùng Hamilton tương tác: H tt 0 x J (r R j )S .1) trong đó: x nồng độ của các ion từ 0 Hệ số tỉ lệ đặc trưng cho bản chất của các ion từ S Spin của điện từ dẫn ở vị trí r Sj Spin của ion từ thứ j ở vị trí Rj J(r-Rj) tích phân trao đổi Bằng phép gần đúng cho cả pha thuận và nghịch từ thì vùng dẫn và vùng hoá trị ở k = 0 đều bị dịch chuyển bởi những giá trị tương ứng 2 x 2 me* 2 J eqc Ec S 2 (1.3) 4 2 q q Bộ môn Quang Lượng tử - Khoa Vật lý 8 z Trương Thị Luyến Luận văn Thạc sĩ trong đó : me*, mp* là các khối lượng hiệu dụng của điện tử và lỗ trống trong vùng dẫn và vùng hoá trị; q là véc tơ đặc trưng cho sự phản sắt từ. Sự dịch chuyển năng lượng toàn phần của vùng cấm được xác định bằng Ee và E x 2 S 2 2 J eqc J eq2 2 E g Ee E e 2 p 2 m m (1.4) 4 2 q q q q 2 Giá trị độ dịch chuyển này thay đổi từ vài meV đến vài chục meV. Khi nồng độ thành phần x của Mn thay đổi trong khoảng vài chục phần trăm Như vậy tương tác trao đổi s-d đã dẫn đến sự dịch chuyển, phân mức vùng dẫn và vùng hoá trị của ZnS. Sự có mặt của ion Mn2+ trong tinh thể ZnS đã tạo nên những mức năng lượng xác định trong vùng cấm của nó.
Dưới tác dụng của trường tinh thể và tương tác spin - quỹ đạo, các mức này bị phân tách thành các phân mức. Do đó trong phổ hấp thụ và bức xạ của chúng ngoài các vạch và đám đặc trưng cho sự tái hợp của các exciton tự do X, exciton liên kết trên các donor, acceptor trung hoà (X-D0), (X-A0), điện tử tự do từ vùng dẫn xuống các mức acceptor (e-A0) và của các cặp donor - acceptor (DAP), còn xuất hiện các đám rất rộng liên quan đến lớp vỏ 3d của các ion Mn2+. Cấu trúc vùng năng lƣợng của tinh thể ZnS ZnS là chất bán dẫn vùng cấm rộng và thẳng, đây là lí do tại sao ZnS có thể phát quang với bước sóng ngắn (vùng xanh) và có thể tạo ra những bẫy bắt điện tử khá sâu trong vùng cấm [1]. Sơ đồ vùng năng lượng của ZnS Từ những nghiên cứu về mật độ trạng thái bằng phổ phản xạ điện tử đã chỉ ra rằng bên dưới của vùng hoá trị được tạo thành từ các mức năng lượng của các nguyên tử Zn và S với các hàm sóng đối xứng s và p tương ứng.
Do đó vùng hóa trị có đối xứng bội 3. Bộ môn Quang Lượng tử - Khoa Vật lý 9 z Trương Thị Luyến Luận văn Thạc sĩ Nhưng do tương tác spin - quỹ đạo đã có sự tách mức vùng năng lượng khiến bậc suy giảm. Ba nhánh trong vùng hoá trị được biểu diễn bằng công thức sau: [5] E1,2= AK2±[B2K4 + C2(K2xKy2+ Ky2 Kz2 + Kz2Kx2)]1/2 (1.