Chương 1 : Giới thiệu. Giới thiệu lý do chọn đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài,… Chương 2 : Tổng quan nghiên cứu đề tài. Trình bày tổng quan, sơ lược về lĩnh vực nghiên cứu, các thành tựu nghiên cứu trong và ngoài nước. Chương 3 : Khảo sát hoạt động của Remote.
Nghiên cứu nguyên lý hoạt động của remote. Chương 4: Lựa chọn phương án xây dựng mô hình và thiết kế cơ khí Trình bày các phương án thiết kế và gia công mô hình. Trình bày mô hình phần cứng, tính toán 2 do an lựa chọn động cơ, tính toán trục vít me, cơ sở lý thuyết chọn ray dẫn hướng, phân tính ứng ứng và chuyển vị của 1 số chi tiết chịu tải. Chương 5: Thiết kế hệ thống điều khiển.
Trình bày các thuật toán điều khiển, các code lập trình. Chương 6: Thiết kế giao diện điều khiển. Trình bày code lập trình giao diện điều khiển. Chương 7: Kết quả thực nghiệm.
Đánh giá kết quả điều khiển thiết bị với các yếu tố ảnh hưởng. Chương 8 : Kết luận và hướng phát triển. Trình bày các kết quả đã và chưa đạt được, đề nghị và đưa ra hướng phát triển cho đề tài. 3 do an CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan lĩnh vực nghiên cứu LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN MÁY CNC Máy điều khiển số cổ điển chủ yếu dựa trên công trình của một người có tên là John Parsons.
Từ những năm 1940 Parsons đã sáng chế ra phương pháp dùng phiếu đục lỗ để ghi các dữ liệu về vị trí tọa độ để điều khiển máy công cụ. Máy được điều khiển để chuyển động theo từng tọa độ, nhờ đó tạo ra được bề mặt cần thiết của cánh máy bay. Parson giới thiệu hiểu biết của mình cho không lực Hoa Kỳ. Cơ quan này sau đó đã tài trợ cho một loạt các đề tài nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Servomechanism của trường Đại học kỹ thuật Massachusetts (MIT).
Công trình đầu tiên tại MIT là phát triển một mẫu máy phay NC bằng cách điều khiển chuyển động của đầu dao theo 3 truc tọa độ. Mẫu máy NC đầu tiên được triển lãm vào năm 1952. Từ 1953 khả năng của máy NC đã được chứng minh. Một thời gian ngắn sau, các nhà chế tạo máy bắt đầu chế tạo các máy NC để bán, và các nhà công nghiệp, đặc biệt là các nhà chế tạo máy bay đã dùng máy NC để chế tạo các chi tiết cần thiết cho họ.
Hoa kỳ tiếp tục cố gắng phát triển NC bằng cách tiếp tục tài trợ cho MIT nghiên cứu ngôn ngữ lập trình để điều khiển máy NC. Kết qủa của việc này là sự ra đời của ngôn ngữ APT: Automatically Programmed Tools vào năm 1959 C IM CAD / CAM CAD F MS CNC NC 1950 1960 1970 1980 1990 Hình 2. Thời gian phát triển của máy CNC 4 do an Máy công cụ CNC được thiết kế cơ bản giống như máy công cụ vạn năng.Sự khác nhau thật sự là ở chỗ các bộ phận liên quan đến tiến trình gia công của máy công cụ CNC được điều khiển bởi máy tính. Các hướng chuyển động của các bộ phận máy công cụ CNC được xác định bởi một hệ trục tọa độ.
Mỗi chuyển động của các bộ phận máy có một hệ thống đo riêng để tính toán các vị trí tương ứng và phản hồi thông tin này về hệ điều khiển. Nhập dữ liệu: Dùng chương trình NC Điều khiển: Máy tính được tích hợp trong hệ điều khiển CNC và phần mềm tương ứng kiểm soát toàn bộ các chức năng điều khiển của máy công cu. Kiểm tra: Trên máy công cụ CNC, kích thước của chi tiết gia công được đảm bảo trong suốt quá trình gia công với sự phản hồi liên tục của hệ thống đo 2. Một số thành tựu từ nền tảng của máy CNC 2.
Trong nước Hiện nay với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ Việt Nam đã từng bước nghiên cứu, thiết kế và chế tạo được các máy CNC phay tiện loại nhỏ, các máy SMT cắm linh kiện tự động,máy in 3D Hình 2. Máy cắm linh kiện điện tử tự động của trường SPKT 2. 3D Systems 3D Systems là cái tên rất lâu đời trong làng in 3D. Nó được thành lập năm 1986 tại Valencia, California, bởi Chuck Hull, người sáng chế và giữ bản quyền kỹ thuật tạo mẫu nhanh SLA.
5 do an Các sản phẩm dành cho cá nhân của 3D Systems: Cube, CubeX, ProJet 1000, ProJet 1500, ProJet 160, ProJet 260 Các sản phẩm chuyên nghiệp của 3D Systems: Rất nhiều, với các dòng sản phẩm ProJet khác nhau. Như đã nói, 3D System tập trung mạnh vào các sản phẩm công nghiệp.2 Fanuc Là 1 cái tên lâu đời trong lĩnh vực gia công CNC với các chủng loại máy gia công CNC như phay, tiện, đột … Hình 2. Máy phay CNC MORI SEIKI MV653HG0500 FANUC 18iM- 2008 6 do an CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG CỦA REMOTE TV 3. Giới thiệu hệ thống điều khiển từ xa: Hệ thống điều khiển từ xa là một hệ thống cho phép ta điều khiển các thiết bị từ một khoảng cách xa.
Ví dụ hệ thống điều khiển bằng vô tuyến, hệ thống điều khiển từ xa bằng tia hồng ngoại, hệ thống điều khiển từ xa bằng cáp quang dây dẫn. * Sơ đồ kết cấu của hệ thống điều khiển từ xa bao gồm: - Thiết bị phát: biến đổi lệnh điều khiển thành tin tức tín hiệu và phát đi. - Đường truyền: đưa tín hiệu điều khiển từ thiết bị phát đến thiết bị thu. - Thiết bị thu: nhận tín hiệu điều khiển từ đường truyền, qua quá trình biến đổi, biến dịch để tái hiện lại lệnh điều khiển rồi đưa đến các thiết bị thi hành.
Thiết bị phát Đường truyền Thiết bị thu * Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống điều khiển từ xa: - Phát tín hiệu điều khiển. - Sản sinh ra xung hoặc hình thành các xung cần thiết. - Tổ hợp xung thành mã. - Phát các tổ hợp mã đến điểm chấp hành.
- Ở điểm chấp hành (thiết bị thu) sau khi nhận được mã phải biến đổi các mã nhận được thành các lệnh điều khiển và đưa đến các thiết bị, đồng thời kiểm tra sự chính xác của mã mới nhận. Một số vấn đề cơ bản trong hệ thống điều khiển từ xa: Do hệ thống điều khiển từ xa có những đường truyền dẫn xa nên ta cần phải nghiên cứu về kết cấu hệ thống để đảm bảo tín hiệu được truyền chính xác và nhanh chóng theo những yêu cầu sau: 3. Kết cấu tin tức: Trong hệ thống điều khiển từ xa độ tin cậy truyền dẫn tin tức có quan hệ rất nhiều đến kết cấu tin tức. Nội dung về kết cấu tin tức có hai phần: về lượng và về chất.
Về lượng có cách biến lượng điều khiển và lượng điều khiển thành từng loại xung gì 7 do an cho phù hợp, và những xung đó cần áp dụng những phương pháp nào để hợp thành tin tức, để có dung lượng lớn nhất và tốc độ truyền dẫn nhanh nhất. Kết cấu hệ thống: Để đảm bảo các yêu cầu về kết cấu tin tức, hệ thống điều khiển từ xa có các yêu cầu sau: - Tốc độ làm việc nhanh. - Thiết bị phải an toàn, tin cậy. - Kết cấu phải đơn giản.
Hệ thống điều khiển từ xa có hiệu quả cao là hệ thống đạt tốc độ điều khiển cực đại đồng thời đảm bảo độ chính xác trong phạm vi cho phép. Các phương pháp mã hóa trong điều khiển tư xa: Trong hệ thống truyền thông tin rời rạc hoặc truyền thông tin liên tục nhưng đã được rời rạc hga tin tức thường phải được biến đổi thông qua một phép biến đổi thành số (thường là số nhị phân) rồi mã hóa và được phát đi từ máy phát. Ở máy thu, tín hiệu phải tông qua các phép biến đổi ngược lại với các phép biến đổi trên: giải mã, liên tục hóa,. Sự mã hóa tín hiệu điều khiển nhằm tăng tính hữu hiệu và độ tin cậy của hệ thống điều khiển từ xa, nghĩa là tăng tốc độ truyền và khả năng chống nhiễu.
Trong điều khiển từ xa ta thường dùng mã nhị phân tương ứng với hệ, gồm có hai phần tử [0] và [1]. Do yêu cầu về độ chính xác cao trong các tín hiệu điều khiển được truyền đi để chống nhiễu ta dùng mã phát hiện và sửa sai. Dạng sai nhầm của các mã được truyền đi tùy thuộc tính chất của kênh truyền, chúng có thể phân thành 2 loại: - Sai độc lập: Trong quá trình truyền, do nhiều tác động, một hoặc nhiều ký hiệu trong các tổ hợp mã có thể bị sai nhầm, nhưng những sai nhầm đó không liên quan nhau. - Sai tương quan: Được gây ra bởi nhiều nhiễu tương quan, chúng hay xảy ra trong từng chùm, cụm ký hiệu kế cận nhau.
Sự lựa chọn của cấu trúc mã chống nhiễu phải dựa trên tính chất phân bố xác suất sai nhầm trong kênh truyền. Hiện nay lý thuyết mã hóa phát triển rất nhanh, nhiều loại mã phát hiện và sửa sai được nghiên cứu như: mã Hamming, mã chu kỳ, mã nhiều cấp. Điều khiển từ xa dùng tia hồng ngoại: 8 do an 3. Khái niệm về tia hồng ngoại: Ánh sáng hồng ngoại (tia hồng ngoại) là ánh sáng không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, có bước sóng khoảng 0,8µm đến 0,9µm, tia hồng ngoại có vận tốc truyền bằng vận tốc ánh sáng.
Tia hồng ngoại có thể truyền đi được nhiều kênh tín hiệu. Nó ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp. Lượng thông tin có thể đạt được 3Mbit/s. Trong kỹ thuật truyền tin bằng sợ quang dẫn không cần các trạm khuếch đại giữa chừng, người ta có thể truyền một lúc 15000 điện thoại hay 12 kênh truyền hình qua một sợ tơ quang với đường kính 0,13mm với khoảng cách 10Km đến 20Km.
Lượng thông tin được chuyền đi với ánh sáng hồng ngoại lớn gấp nhiều lần so với sóng điện từ mà người ta vẫn dùng. Tia hồng ngoại dễ bị hấp thụ, khả năng xuyên thấu kém. Trong điều khiển từ xa chùm tia hồng ngoại phát đi hẹp, có hướng do đó khi thu phải đúng hướng. Nguồn phát sóng hồng ngoại và phổ của nó: Các nguồn sáng nhân tạo thường chứa nhiều sóng hồng ngoại.
Hình dưới cho ta quang phổ của các nguồn phát sáng này. Biểu đồ thể hiện mối tương quan giữa độ nhạy tương đối và độ dài sóng. Phổ của mắt người và PT cũng được trình bày để so sánh. Đèn thủy ngân gần như không phát tia hồng ngoại.
Phổ của đen huỳnh quang bao gồm các đặc tính của các loại khác. Phổ của transistor khá rộng. Nó không nhạy trong vùng ánh sáng thấy được, nhưng nó cực đại ở đỉnh phổ của LED hồng ngoại.