Chương 1: Tông quan tài liệu gồm 27 trang, từ trang 4 đến trang 31 Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu gồm 7 trang, từ trang 32 đến trang 39 Chương 3: Kết quả và thảo luận gồm 56 trang, từ trang 40 đến trang 95 Kết luận và kiến nghị gồm 3 trang, từ trang 96 đến trang 98. Tài liệu tham khảo 7 trang, từ trang 99 đến trang 104 CHUONG1 TONG QUAN TAI LIEU 1. KHAI NIEM, PHAN LOAI VA GIA TRI CUA CAC LOAI RAU DẠI ĂN ĐƯỢC 1. Khái niệm Cây rau được xác : là thực vật mà con người dùng làm thức ăn như là món chính hoặc đồ phụ gia dùng để nấu hoặc ăn sống, ăn lẫn với cơm chứ không thay cơm như các hoa màu phụ như: Ngô, khoai, đậu, sắn.[14] Rau dại ăn được hay thực vật hoang đã dùng làm rau ăn: Đó là các loài thực vật bậc cao phân bố trong môi trường tự nhiên được sử dụng làm rau ăn.
Cụ thể là những thực vật không phải canh tác, cũng không thuần, có sẵn trong, tự nhiên được sử dụng như nguồn thức ăn [30] Rau rừng cũng là loại rau đại ăn được, tuy nhiên nó được hiểu thông thường là những loại rau đại phát triển ở rừng. Rau rừng cũng được xếp là một loại lâm sản ngoài gỗ (LSNG) [33]. Phân loại rau Có thể phân loại dựa vào các yếu tố sau: -_ Dựa trên phân loại thực vật học: Để phân loại rau người ta sử dụng hệ thống phân loại học thực vật đề định danh, phân loại một cách chính xác. Một số họ có nhiều các loại rau ăn như: Họ cà (Solanaceae), Họ bầu bí (Cucurbitaceae).
- Phân loại theo vòng đời: Có các loại rau 1 nam (annual): Dén, Bi do. loại 2 năm (biennial): Bắp cải, Củ dền.Loại lâu năm (perennial): He, Mang tây. ~ Phân loại theo cách sử dụng: Là loại rau cần nấu chín hoặc có thể ăn sống. ~ Phân loại theo môi trường sống: Dựa theo điều kiện môi trường sống, thích ứng với loài.
Ví dụ với loài ưa bóng, nơi khí hậu mát như: Súp lơ, Bông cải xanh. - Phân loại theo nguồn gốc: Cây du nhập (exotic veg), Cây bản xứ (indigenous veg) - Phan loai theo thanh phan sit dung: Day 1a cach phan loai duge sir dụng chủ yếu trong thực phẩm, gồm: + Rau ăn lá: Phần sử dụng là lá, chứa nhiều muối khoáng và vitamin như các loại rau Cải thìa, Cải thảo, Cải bó xôi, Rau ngét + Rau ăn thân: Phần được sử dụng chính là thân như như Bạc hà, Ming. + Rau ăn hoa: Hoa chuối, Hoa thiên lý, Hoa điên điển, Bông súng. có thê dùng làm rau.
+ Rau ăn quả: Rau ăn quả thuộc họ Bầu bí như Bầu, Bí đao.Các loại quả khác khá phổ biến như: Mướp, Dưa leo, Khô qua (Mướp ding), Ca tim, Đậu bắp. Ngoài ra Du đủ xanh, Xoài xanh, Mít xanh cũng được dùng chế biến như một loại rau trong âm thực Việt Nam. + Rau ăn rễ củ: Rau ăn rễ như ngó Sen, rau ăn củ có thể gồm: Củ cải, Cà rốt, Củ dền. + Rau ăn hạu Đậu Hà lan, các loại đậu như: Đậu xanh, Đậu nành.
Giá trị của các loài rau dại ăn được a. Giá trị về dinh dưỡng Từ thực tế sử dụng rau rừng của bộ đội và nhân dân trong 2 cuộc chiến tranh chống pháp và chống Mỹ và qua phân tích hóa học tại Viện nghiên cứu quân đội trong những năm 1969-1980 cho thấy: Quá nửa số rau rừng được phân tích có từ 30-50mg% vitamin C (thậm chí có loại cao hơn như rau Muối 108mg%, Mudng ngủ 123mg%, dây Lac tién 220mg%) va carotene trén 3mg%. Lượng protein trong loài rau rừng cũng khá cao: như lá Dâu 8.9% tương đương hoặc cao hơn lượng protein trong rau Muống [7]. Ưu thế rau hoang dại là giàu vitamin, khoáng chất và protein, thích nghỉ với đất khô hạn, bạc màu, kháng sâu bệnh tốt, nên hạn chế được việc sử dụng hóa chất, và có thể trồng theo cả phương thức quảng canh và thâm canh.
Hầu hết các nhà khoa học và các chuyên gia dinh dưỡng đều đồng ý rằng các loại thực phẩm từ thực vật tốt cho sức khoẻ con người, đặc biệt là các loại rau. Trong đó, các loại rau tự nhiên có nhiều dinh dưỡng hơn những loại rau cùng loài được trồng trong vườn nhà. Chúng thường có tỷ lệ các axit béo omega-3 cao hơn rất nhiều so với các loại rau trồng [41]. Những loại rau này có khả năng tự bảo vệ trước sâu bệnh mà không cần bắt cứ sự trợ giúp nào của con người nên chúng là rau sạch, rau an toàn [II] Tây nguyên là khu vực có sự đa dạng về các loài rau rừng, có thể kể các loài cây rau rừng được bà con dân tộc ở Lâm Đồng thu hái như: Rau bép; Đọt mây, Ta bres, Rau tai voi, Cà đắng, hoa Chuối rừng.
còn rất nhiều loài rau rừng được đồng bào sử dụng mà chúng ta chưa nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Đạt về “Đánh giá tiểm năng làm rau ăn của cây lá bép ở Lâm Đẳng” cây lá Bép được phân tích về thành phần dinh dưỡng, với kết quả: Đường khử = 0.2%, đặc biệt trong 16 axit amin có 8 axit amin không thay thể xuất hiện trong cây lá Bép. Kết quả phân tích đã khẳng định được giá trị dinh dưỡng rất cao của cây lá Bép, đề tài cũng mở ra hướng nhân giống sinh dường cây lá Bép phục vụ cho trồng thâm canh đối tượng này [6]. Nghiên cứu khác về Dây bò khai (Eryhropalum seandens) (tên khác: Dây hương, rau Hiến, Khau hương, Phắc hiến (Tày), Lòng châu sói (Dao), có thành phần dinh dưỡng: Trong 100 gam lá Dây bò khai gồm: 78,8 g nước; 6 g protein; 6,1 g gluxit; 7,5 g xơ; 1,6 gam tro; 138 mg Ca; 40,7 mg P; 2,6 mg caroten; 60 mg vitamin C.
Dây bò khai là loại rau cô truyền của đồng bảo. miền núi tỉnh Cao Bằng, mỗi năm một gia đình ở đây bình quân thu hái 5 - 10 kg dây Bò khai để làm thức ăn, hiện nay dây bò khai được bán nhiều ở các chợ thị xã Lạng Sơn và Cao Bằng, trở thành món ăn đặc sản được nhiều người ưa thích [12]. Như vậy, có thể thấy thành phần dinh dưỡng của rau dại ăn được phần lớn không thua kém, thậm chí ở một số loài, một số chỉ tiêu còn vượt trội các loài rau truyền thống trong bữa ăn hằng ngày [7]. b, Giá trị sử dung Đối với đa số người Việt Nam, rau bản địa đã được người dân ở nông.
thôn khai thác sử dụng từ lâu đời. Trong cuộc sống thường nhật, rau bản địa có thể được sử dụng bằng nhiều cách như ăn sống, luộc, nấu canh, chiên hoặc trộn xalat. Chúng cũng có thể được muối chua hay đóng hộp. Rất nhiều loài hoang dại được sử dụng làm rau “dân da’, rau dae san, rau gia vi va còn là những vị thuốc [11].
Nhiều loại rau ăn rất ngon như rau Sắn Chùa Hương, Bù khai, Bép, Mí mắt, Chẵn.có vị ngọt tự nhiên khi chế biến nên được gọi là rau “mì chính”. Nhiều loại rau chi cin chan qua nước sôi rồi đem xào với tỏi cũng đã trở thành món ngon khó quên như: rau Lủi Dớn, Bầu đất, Tàu bay, Dây hương. Trộn dấm và gia vị như: Cải xoong, Càng cua.Món nộm có qua Va, Mit nai non, hoa Chuối rừng.; Ăn sống hay ghém: lộc non, các loài Sau sau, Nhội, Lộc vừng, Thành ngạnh, Sung, Bí bái, lá Mơ lông, Mùi tau, Ngd, Diép cá.; Dùng làm gia vị có: hạt Giổi, Mác mật, Tiêu rừng, Hồi, Thảo quả, Sa nhân, Thiên niên kiện, Xuyên tiêu, Màng tang.; lên men các loại thực phẩm như lá Đơn nem, lá Ôi rừng, củ Ring, tro lá Mắm.; làm bún (lá Bún), gói bánh như: lá Dong, lá Chuối rừng, làm đậu phụ như lá Vón vén, Chua méo. chế biến hải sản như: lá Bọ mắm, lá Dung, lá Phèn đen.; làm thạch như: lá Giăng, lá Thạch đen, lá Ươi.
Các loài rau chua, quả chua như Vón vén, Chua me đất, Me suối, lá Giang, Bứa, Dọc, Sấu, Dâu gia đất.dùng nấu canh chua hay món lâu hải sản, lâu gà điều rất được yêu thích [7] Các loài cây cung cấp nhiều chất bột, nấu ăn trực tiếp hoặc chế lên thành tỉnh bột như cây Búng bán, củ Mài có giá trị không kém tỉnh bột sắn. Đây cũng là nguồn lương thực quan trọng của nhiều tộc người tiểu số sống, dọc dải Trường Sơn như Rục, Arem, Chứt. Nhiều loài rau rừng có tác dụng chữa bệnh hoặc là những vị thuốc được nhân dân ưa dùng như: Ngãi cứu, Mã Đề, Diếp cá, Tía tô, Kinh giới, rau Đắng, rau Sam, rau Ngót, rau Khúc, lá Vông, lá Lối .Những loại rau ăn trong mùa hè có tác dụng giải nhiệt như rau Má, Chua me đất, Lá giang. e Giá trị kinh tế Ngoài giá trị sử dụng tại chỗ kiểu tự cung tự cấp thì các loài rau dại đặc.
biệt là rau rừng cũng đã trở thành hàng hóa. Tuy nhiên hình thức mua bán vẫn là tự phát, nhỏ lẻ và chưa trở thành một ngành kinh doanh thực sự [7] Cùng với nhu cầu sử dụng rau rừng ngày càng tăng, đặc biệt là các đô thị, các điểm tham quan du lịch, số lượng và chủng loại rau rừng tham gia thị trường ngày càng nhiều hơn. Rau rừng đã có mặt trong nhiều siêu thị, nhà hàng.xong nguồn cung chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu của thị trường trong nước. Công ty Sannamfood (Hà Nội) là một trong những công ty của Việt Nam kinh doanh sản phẩm rau rừng, hiện tại công ty đã xây dựng mô hình trồng rau rừng, rau an toàn tại Hòa Bình với diện tích 300ha, thông qua hình thức phân phối khá hiện đại là phát hành thẻ khách hàng kết hợp với thương mại điện tử, nhiều sản phẩm rau rừng đã xuất hiện ở các siêu thị và trên trang.
web của công ty, có thể kể: Rau báng, Tai voi, Lưỡi hỗ. Các sản phẩm rau. rừng từ mô hình rau an toàn của Sannamfood hiện nay thuộc rau “cao cấp” với giá đao động từ 30. 4 Giá trị văn hóa và xã hội Rau bản địa không chỉ có giá trị dinh dưỡng cho sức khỏe, giá trị kinh tế cho người trồng mà còn có giá trị văn hóa.
Rau rừng tham gia tạo ra nét văn hóa về âm thực cho từng địa phương, vùng, miền. Rau Sắn gắn với lễ hội Chùa Hương. Thịt trâu lá Lồm, canh gà — Măng đắng của miền Tây Bắc. Đến với Tây nguyên có thể bắt gặp biểu tượng của rau Dớn trên nhà Rông hay nhà mò, chốn linh thiêng của từng buôn làng, họ tộc.