Chương 1 - Tổng quan về móng và nến; Chương 2 - Phương pháp tính móng và móng cọc bằng các phương pháp. hiện hành: “Chương 3 - Giải bài toán ứng suất cục bộ của móng bằng phương pháp phần. tử hữu hạn có sử dung phần tử bậc cao; Kết luận - Tài liệu tham khảo; Ch-¬ng 1: Tang quan vd mang cäc vụ ndn 1.1, Gili thiÖu chung c,e ph-ong ph,p xố lý nồn MĂNG CAA C,C CaNG TRxNH X€Y DONG TREN NON SET YÕU DE công trình tổn tại và sử dụng được một cách bình thường không những các kết cấu phần trên phải có đủ độ bền, in định mà bản thân nền và mồng cũng ổn định, có độ bên cần thiết và biến dang nằm trong phạm vi cho phép, Nén là chiều day các lớp đất đá trực tiếp chịu tii trọng của công trình do móng truyền xuống. Móng là phần đưới đất của công trình làm nhiệm vụ truyền ti trọng của công trình xuống nến.
Việc thiết kế nên móng là một công việc phức tap vì nó liên quan đến đặc điểm của công trình thiết kế, nền móng của công trình lân cận, điều kiện địa chất công trình, địa chất thuỷ van của khu đất xây dựng Chính vì vậy, việc xử lý nền móng thường chiếm tỷ trọng công việc cũng như kinh phí khá lớn khi xây dựng công trình. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản thì mống của hầu hết các công trình đều được dat trên nên dat, bản thân đất có nhiều loại khác nhau, trong đó nến đất yếu không đủ khả năng chịu tải trong lại chiếm dại đa số, thế nên cho đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu và dưa ra rất nhiều hình thức xử lý nên móng, phù hợp với từng loại nén đất và kết cấu công tình Sau đây là tổng kết một số hình thức xử lý nén công trình thường được áp dụng rộng rai [3]. NON NHeN TIO Khi mà nên thiên nhiên không đủ sức chịu, không đủ độ bên và bị biến dang nhiều, thi người ta xử lý nhân tạo C6 nhiều phương pháp gia cố nền đất yếu, Tuy thuộc vào tính chất của từng loại công trình, tuỳ thuộc vào diéu kiện kinh tế- kỹ thuật mà lựa chọn phương pháp thích hợp. Trong bảng dưới đây sẽ trình bày một cách t6m tắt những phương pháp thông dụng hiện nay [6] 10 "Bảng 1.
Các phương pháp xử lý nêm “Các phương Dang nón và pháp xửlý nên , các khả năng xây dựng | Điều kiện địa chất công trình. nhân tạo chúng li yếu, lún nhiều (han bùn, đất ILThay thé nền mới |, Đệm cát hoặc đất h lắp xốp yếu). Dip nên bing đá hoặc ban; tsa hi ting bùn nằm dưới nước fat sbi IL. Dim nền chat 1.
Đầm chat ten mật dt Tác loại đất lỗ rồng lớn, et rời xốp, và những loại đất dính chưa được fa. Bim bằng các khối nặn h aca chat ckhi $< 06) b, Dim ning tri xốp 2. Lam chat đới sâu 4, Ding cọc bing dat ác loại dat 16 hồng lớn “ie loại dit yếu và có khả nang b.Coe cát thấm nước (bùn, séipha, cất pha indo yến €. Nến chat bằng phương phái Đất eat ời xốp rang cơ học hay thuỷ lực {Lam chat bằng phương phí —_ loa eat rii x6 nổ HHL.
Bor nhối vào CÓ Cất xốp và các loại đất có lỗ hồng ilicat lòng đất lớn St xốp và các loại đất có 16 hổng 2. Ding hắc in tổng hop lớn IV: Phương phái Đất số yến (có hệ số thấm, sm kh Điện hod seu lien < 0,01 mingay đêm „ lí sốt yếu (có hệ số thấm. Bien thấm < 0,01 mingay đêm 3. Ding ta lửa điện tri xốp và bão hoà nước, N- Dang.
phamgĐing sic ning để mang ch #_phươngDn ít hông dễ M thủ, nạn lợn nip abi ieing 1. Đệm cát Lớp đệm cát được sử dụng có hiệu quả nhất khi lớp đất yếu ở trang thái bio hoà nước ( sét nhão, sét pha nhão, cát pha bão hoà nước, bùn, than bàn) và có. chiếu đầy nhỏ hơn 3 mét [5]. Đệm cát thường làm bằng cát hat to, cát hat trung bình hoặc pha hai loại đó với nhau.
Việc thay thế lớp đất yếu bằng đệm. có những tác dụng chủ yếu sau đây: Sau khi thay thế lớp đất yếu nằm trực tiếp dưới móng công trình đệm cát đồng vai trò như một lớp chịu lực, có khả năng tiếp thu được tải trọng của công inh và truyền tải trong đó xuống lớp đất thiên nhiên ben dưới. Giảm bớt độ lún toàn bộ và độ lún không đều của công tinh, đồng thời làm tang nhanh qu inh cố kết của đất mém ( cát trong lớp đệm có hệ số thấm tang khả năng ổn định của công trình kể cả khi cổ tải trọng ngang tác dung, vì cát được nến chat sẽ tang lực ma sắt và tăng fe chống trượt Kích thước móng va chiều sâu chôn móng sẽ được giảm bớt, vì áp lực tính toán (sức chịu) của đất nền tăng lên. Phương pháp này có những tác dung tốt như vậy, mà thi công lại đơn giản, không đòi hỏi các thiết bị phức tap, nên được sử dụng tương đối rộng rãi.
Tuy vay, trong những trường hợp bất lợi sau day thì không nên sử dung cát đệm: - Lớp đất yếu phải thay thế có chiếu day lớn hơn 3m. chiều day lớn hơn 3m thì tốn rất nhiều. thi công khó và chi phi lớn, ~ Mực nước ngầm cao và có áp, như vậy việc hạ mye nước ngắm rất tốn kém, và mặt khác đệm cát sẽ không ổn định. Nên cọc cát “Trước hết phải phân biệt cọc cát với các loại cọc cứng khác (bằng bê tông 12 cốt thép, bằng gỗ, bằng tre.), mang lưới cọc cất làm nhiệm vụ gia cố nền, nên soilà nên cọc cát.
Còn các loại cọc cứng là một bộ phận của kết cấu móng (móng coe) làm nhiệm vụ truyền tải trọng của công trì h xuống nén. [12] Coe cát có những đặc điểm sau đây Lam nhiệm vụ như giếng cát, giúp cho nước lỗ rồng trong dat thoát ra nhanh, nên làm cho quá tình cố kết của đất tăng lên và độ lún chóng ổn định hơn Khi thi công nến cọc cat thì trước hết ống thép (ạo lổ) đã bước đầu làm giảm thể tích đất. Sau đó cát trong các lỗ đólai tiếp tục nén chặt đất thêm, Tức là làm cho độ rồng của đất giảm bớt, nước lỗ rồng trong đất thoát ra và do đó làm cho cường độ của nên móng cọc cát (bao gồm cọc cát và đất giữa các cọc) được tăng lên, Như vậy là nến đất được tốt lên một cách rõ rệt. Nén cọc cất được thi công một cách đơn giản với các vật liệu rẻ tiền (cát thô, sạn sOi) nên giá thành thường st hơn các loại mồng cọc và đệm cát.
Do những ưu điểm như vậy nên cọc cát thường được dùng để gia cố nén đất yếu có chiều đầy lớn 3m) Trong những trường hợp sau day thi không nên đồng cọc cát: Đất quá nhão yếu. lưới cọc cát không thé Ten chat được đất. Chúng tôi để nghị, khi hệ số rồng nén cha „ > 1 chứng tỏ hiệu quả nến chat của cọc cát rất và như vậy thì không nên dùng cọc cát. “Chiều đầy đất yếu nhỏ hơn 2m, thì dùng đệm cát lạ tốt hơn cọc cất, 1.
Nến cọc ví cọc đất - xi mang 1. Coe voi Coc vôi thường được dùng để nén chat các lớp đất yếu như: than bùn, bùn, xét và sốt pha ở trạng thái d8o nhão. [6] Coe vai có những tác dụng sau đây: Sau khi cọc voi được đâm chặt, thì đường kính cọc vôi sẽ tăng lên 20% và đất xung quanh cọc được nến chặt lại Khi vôi được tôi trong 16 khoan thì dưới nhiệt độ khoảng 120+160 c sẽ tạo. ra một nhiệt lượng khoảng 280 Keal trên Ike canxi, Với một nhiệt lượng lớn như vậy, nước lỗ rồng trong đất sẽ bốc hơi, làm giảm độ ẩm trong đất và làm cho quá B trình nến chặt đất tang nhanh.
Mat khác, khi tôi vôi thì thể tích sẽ tang lên khoảng 2 lần và do đó đất xung quanh cọc cũng được nến chặt thêm nữa. Do những tác dụng của cọc vôi như vậy nên đất sẽ có những biểu hiện tốt Ten như sau: Độ ẩm của đất giảm di khoảng 58%. ‘Mo dun biển dang tang khoảng 324 lần Lye dính tang lên khoảng 1,523 lần “Theo kết quả thực nghiệm cho thấy rằng cường độ chịu nén 1 trục của mỗi ‘cue vôi có thể dat tới 100022500 KPa, Cường độ của đất giữa các cọc vôi có thể tăng lên khoảng 2 lần. và vì thế, sau khi gia cốthì nén cọc vôi có cường độ tang lên khoảng 2+3 lần "Như vậy là nên đất yếu sau khi được gia cố bằng cọc với, thì cường độ được tăng lên một cách rõ rệt.
Tuy nhiên, khi đất ở trang thái quá nhão yếu (thường có {46 st 1, >1) thì cần phải thận trọng khi ding cọc vôi, bởi vì hiệu quả nén chat của cọc với sẽ rất bị hạn chế Nhất là đối với loại bùn gốc sét và sét nhão yếu thì hiệu quá nén chặt ngày càng. ít vi vôi tôi và đất sét đều là loại thấm nước ít nên nước lỗ rồng trong đất được ép thoát ra rất khó. Trong trường hợp đó, thì nên dùng đệm cát, cọc cát hoặc các giải pháp xử lý nên khác. ở nước ta thì cọc vôi còn được dùng rất it 1.
Coe đất- vôi Nguyên lý: Lưỡi khoan như các ngoáy trứng khống 16, Lưỡi khoan có đường kính ÿ 500mm, có tác dụng tạo lỗ và làm đất tơi ra tại chỗ. Có thể khoan sâu 10m. Khi khoan đến chiều sâu thiết kế,thì bắt đầu quá trình phun vôi. Voi bột được chứa trong xi lô, có dung tích 2,5m3 (đủ cho 1 ca hoạt động).
Khi máy vận hành, một bộ phận máy nén khí sẽ tạo nên trong xi lô một áp lực khoảng 10 atmotphe. Với áp lực đó vôi bột sẽ đẩy từ xi lô, qua ống dẫn bằng cao su vào cần khoan 16, chui ra một lỗ nhỏ ÿ 30mm ở dưới lưỡi khoan và phun vào lòng đất. Voi bột tác dụng với nước lỗ rồng trong đất tạo nên các liên kết xi mang và xilicat hoá. Các liên kết đó sẽ gắn kết các hạt khoáng vật trong đất lại và làm cho đất trở lên cứng hơn lên một cách rõ rộ.
[6] Higu quả tác dụng của cọc đất với: H Sau khi máy Alimak tạo nên cọc đất vôi tại chỗ, cường độ của cọc dat vôi này tuỳ thuộc vào lượng voi phun và tăng dẫn theo thời gian Kết quả nghiên cứu của viện KHKTXD Bộ Xây dựng cho thấy rằng, lượng voi cảng nhiều thì độ cứng của cọc càng tăng nhanh.