MỞ ĐẦU Các hạt có điện tích từ có thể được loại bỏ băng cách sử dụng nam châm vĩnh cửu trong ứng dụng từ trường. Trên cơ sở đó, trong phạm vi nghiên cứu nay, chúng tôi đã tién hành ứng dụng thu hồi DNA của một số đối tượng bang hat nano FezOx với mục tiêu áp dụng kỹ thuật mới nhằm thu nhận DNA nhanh chóng, đạt hiệu quả cao. Hiệu rõ đôi tượng và mục tiêu, chúng tôi thực hiện dé tài “Nghiên cứu ứng dung vật liệu nano sắt từ Fe3O4 trong phân tách DNA”. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu tạo hat nano sắt từ FesO4 và Fe304@Si02 với các đặc tinh đặc trưng và sử dung hạt nano vừa tong hop được dé thu nhận DNA.
Đánh giá hiệu quả thu nhận DNA của phương pháp su dụng hat nano với các phương pháp khác đã có trên các đối tượng khác nhau: vi khuẩn, tao, nam, máu động ^ vật. Nội dung nghiên cứu 1. Tổng hợp hạt nano sắt từ Fe3O4 và FeaOa(@SiO¿. Thử nghiệm khả năng bắt giữ DNA của hạt nano sắt từ 3.
Thử nghiệm khả năng thu nhận DNA vi khuẩn £.coli DH5a của hạt nano Fe304 và Fes304@SiOz2 4. Thử nghiệm kha năng thu nhận DNA của tao Spirulina platensis bang hạt nano Fe304 va Fes0a@Si02 5. Thử nghiệm kha nang thu nhận DNA của nắm Cordyceps militaris bang hạt nano FezOx và Fes3O4@SiOz2 6. Thu nghiệm kha nang thu nhận DNA cua máu động vat bang hạt nano Fe3O4 và Fes04@Si02 CHƯƠNG 2 TONG QUAN CHƯƠNG 2 — TONG QUAN 2.
Giới thiệu sơ lược vat liệu nano Công nghệ nano (Nanotechnology) là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, chế tạo, phân tích và ứng dụng các cau trúc, thiết bị, hệ thống vật liệu ở kích thước nanomet. Khoa học nano ngày nay gắn liền việc mở rộng liên kết của ngành khoa học vật liệu đã có bang cách bổ sung các tính chất sinh học và hóa sinh học. Do đó, ngành công nghệ nano là một khoa học ngang tích hợp liên ngành trên tất cả các ngành khoa học và ngành kỹ thuật. Công nghệ nano ngày càng được tập trung nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực cũng như ứng dụng của công nghệ nano đã và đang trở thành những chủ dé thu hút sự quan tâm va tập trung nghiên cứu của nhiều quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển.
Các vật liệu nano là vật liệu có kích thước từ 1-100 nm. Ở kích thước nano, vật liệu sẽ có nhiều tính chất đặc biệt mà không xuất hiện ở vật liệu có kích thước lớn hơn (m, mm, um. Đó 1a tính siêu dẫn, tính siêu phân tử, hiệu ứng bề mặt và tính nhận biết phân tử miễn dịch. Dựa vào cau trúc hình học vật liệu nano được phân loại thành nhiều nhóm: vật liệu 3 chiều < 100 nm (vật liệu nano composite), vật liệu 2 chiều < 100 nm (màng mỏng), vật liệu 13 chiều < 100 nm (nano ống, nano sợi), vật liệu 0 chiêu — đăng hướng (hat nano).
Các phương pháp thu nhận DNA Việc thu nhận nucleic acid chất lượng cao hiệu quả từ mẫu vật liệu rat quan trọng cho su thành công của các phân tích về sau bao gồm PCR, giải trình tự và tạo dòng. Có bốn nguyên tac chủ yếu thúc day sự đổi mới trong thực hanh thu nhận nucleic acid: hiệu quả thu hồi, tốc độ xử lý, phương pháp dễ dàng và độ tinh sạch của sản phâm được thu nhận [2]. Quá trình thu nhận nucleic acid thường xảy ra qua hai bước: giải phóng nucleic acid qua việc ly giải tế bao và tỉnh sạch nucleic acid được giải phóng từ dịch ly giải. Việc giải phóng có thể đạt được băng cách sử dụng bất kỳ sự kết hợp nảo của các phương pháp ly giải bằng cơ học, enzym và hóa học.
CHƯƠNG 2 — TONG QUAN Cac nucleic acid là một nguồn thông tin di truyền và vì vậy, chúng là nguyên liệu dé phân tích gen và kỹ thuật di truyền. Chỉ có một vai ứng dụng như PCR khuẩn lạc hoặc genotype ở chuột có thể được thực hiện mà không có quá trình làm sạch hoàn toàn. Phan lớn phân tích cần chất lượng va số lượng nucleic acid thích hợp. Việc tỉnh sạch nucleic acid mong muốn sẽ đạt được khi lựa chọn phương pháp thích hợp dé thu nhận nucleic acid khỏi protein, polysaccharide và lipid thường có trong mẫu sinh học.
Các phương pháp tinh sạch được chia thành hai loại chính: các phương pháp pha lỏng và các phương pháp pha răn [2, 3, 4]. Một loạt các phương pháp được biết đến dé thu nhận nucleic acid trong pha lỏng, nhưng chúng thường dựa trên hàng loạt các bước kết tủa và rửa phức tạp, đòi hỏi các bước ly tâm kéo dai, do đó, chúng khó khăn, tốn kém và tốn thời gian [3, 4, 5, 6, 2]. Tinh sạch bằng pha lỏng là phương pháp được lựa chọn khi cần số lượng nhiều, độ tinh khiết va tính toàn vẹn. Thu nhận bang phenol — chloroform da được coi là tiêu chuẩn vàng từ năm 1956 [2].
Theo Berensmeier, 2006, phương pháp phân lập nucleic acid cô điển từ vật liệu phức hợp ban đầu như máu hoặc mô, liên quan đến sự phân hủy của vật liệu sinh học bang chat tay rửa hoặc những co chất chất chaotropic, có thể có sự hiện diện của các enzyme làm suy thoái protein, tiếp theo là một số bước xử lý ứng dụng dung môi hữu cơ chắng hạn như phenol và/hoặc chloroform hoặc ethanol, rất độc và đòi hỏi phương pháp xử lý đặc biệt do đó đắt tiền. Ví dụ, loại bỏ hoàn toàn các protein từ nucleic acid có thé đạt được bang cách thêm natri perchlorate. Việc thu nhận RNA khỏi DNA đòi hỏi các bước kết tủa chon lọc với LiCl hoặc thu nhận nuclease tự do với guanidinium hydrochloride hoặc guanidinium thiocyanate, kết hợp với thu nhận băng phenol và kết tủa bằng ethanol [7]. Những phương pháp này không chỉ công kénh va tốn thời gian, mà còn yêu cầu phải thực hiện tương đối nhiều bước làm tăng nguy cơ suy thoái, mắt mẫu hoặc nhiễm chéo mẫu đặc biệt là khi một số mẫu được xử lý đồng thời.
Trong trường hợp phân lập RNA, nguy cơ nhiễm DNA là tương đối cao [3 |. CHƯƠNG 2 — TONG QUAN Như một quy trình thay thé cho cách truyền thống, kỹ thuật thu nhận hấp phụ đã được áp dụng dé tinh sạch DNA [5], giải quyết van đề liên quan đến việc chiết lỏng-lỏng như tách pha không hoan toan [7]. Hệ thong pha ran sẽ hap thu nucleic acid trong quá trình thu nhận tùy theo pH và hàm lượng muối của dung dịch đệm [7] bằng cách sử dụng các loại nhựa đặc biệt và matrix vô cơ, trong sự hiện diện của một số thuốc thử hóa học, tạo điều kiện liên kết nucleic acid thuận nghịch [3]. Phần lớn các kit tinh sạch nucleic acid dựa trên việc thu nhận bang mang, resin hoặc hat từ tính.
Nang suat phụ thuộc vào loại mẫu, đầu vào của mẫu, hiệu quả liên kết của nucleic acid với bé mặt tích điện và thành phan dung dịch đệm [2]. Do một số lượng lớn các mẫu được thực hiện trong phòng thí nghiệm ngày nay, tự động hóa đã trở thành điều không thể thiếu. Các phương pháp tự động rẻ hơn nhiều va loại bỏ nguy cơ khi nhân viên phòng thí nghiệm tiếp xúc với các hóa chất độc hại. Vì lý do này, robot tự động là một phần thiết yếu của bất kỳ nghiên cứu, điều tra pháp y, chân đoán lâm sảng, genotype thực vật và các xét nghiệm kiểm tra thực phẩm, đất, nước.
Mặc dù mảng và nhựa được sử dụng cho một số phương pháp tự động, các vật liệu này thường bị tắc nghẽn. Hạt từ tính cho phép dễ dàng tự động hóa các quy trình tinh chế NA. Chúng có thé áp dụng được cho việc thu nhận bang tay trong phòng thí nghiệm hoặc trong điều kiện thực địa khi không có điện [2]. Việc sử dụng ngày càng tăng của các chất mang từ tinh ran trong sinh hóa và quá trình sinh học phân tử có nhiều ưu điểm so với các quy trình thu nhận khác không áp dụng từ tính.
Các thuật ngữ “từ” có nghĩa là sự hỗ trợ của moment từ khi được đặt trong từ trường, do đó, nó có thé dịch chuyền. Nói cách khác, các hạt có moment từ có thé được loại bỏ dé dang bang cách áp dụng từ trường, ví dụ: bang cách sử dụng nam châm vĩnh cửu. Đây là một cách nhanh chong, đơn giản và hiệu quả dé thu nhận các hạt sau bước liên kết hoặc rửa giải nucleic acid va là phương pháp ít nghiêm ngặt hơn hơn nhiều so với các kỹ thuật truyền thống, chắng hạn như ly tâm, tạo ra lực cắt có thé dẫn đến suy thoái các nucleic acid. Ngoài ra, phương pháp hat nano từ cũng có thé thu nhận thành phan ly giải của tế bào mà gây ức chế, ví dụ DNA polymerase của phản ứng PCR, như polysaccharides, hợp chat phenolic hoặc co chất humic [3].
Theo CHƯƠNG 2 — TONG QUAN cách thông thường, ta chi cần sử dụng một nam châm đặt vào một bên của bình chứa hỗn hợp mẫu để tập hợp các hạt gần thành bình và đồ đi phần còn lại của mẫu. Tóm tắt lịch sử và ứng dụng của hạt từ tính Hạt từ sớm đã được thực hiện thông qua quá trình trùng ngưng của acrylamide va agarose với vật liệu paramagnetic. Những hạt này không đồng nhất về kích thước và thành phan magnetite; do đó, việc liên kết và tỉnh sạch không phải là tối ưu. Các bước đột phá lớn trong sự phát triển của hạt từ là sự hình thành các hạt hình cầu.
Kích thước đồng đều cho phép những kết quả được lặp lại và được tiêu chuẩn hoá. Những hạt dau tiên có rất nhiều liên kết không đặc hiệu nhưng tiềm năng ứng dụng to lớn của chúng đã được công nhận ngay lập tức. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khi bề mặt polymer được thay đôi một phân tử phản ứng sinh học như nhóm amin, phối tử hoặc một kháng thể có thể được sử dụng để thu nhận nucleic acid, protein, kháng thể hoặc các tế bào. Hiện nay, hạt từ tính magnetite được sử dụng không chỉ để thu nhận các phân tử sinh học, mà còn dùng để cố định, phân phối thuốc, chụp ảnh NMR, giải độc, tạo mã vạch và như các cảm biến sinh học.
Tất cả những điều này, đặc biệt là ứng dụng in vivo, giúp tăng cường thêm những nghiên cứu vé vật liệu và sửa đôi bề mặt. Vì lý do này, chúng ta có thể mong đợi những vật liệu tốt hơn trong tương lai gan [2].