CHƯƠNG 1 – NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu ứng dụng vật liệu Carboncor Asphalt vào công tác bảo trì đường bộ tại Việt Nam hiện nay, trong đó chú trọng đối với loại kết cấu áo đường mềm. Vì vậy nội dung của nghiên cứu tổng quan sẽ bao gồm các nội dung chính như sau: - Tổng quan về một số loại vật liệu thường dùng cho tầng mặt của kết cấu áo đường mềm. - Một số phương pháp đánh giá chất lượng mặt đường phục vụ cho công tác bảo trì. - Tổng quan về công tác bảo trì ở Việt Nam hiện nay.
- Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài Các nội dung sẽ được trình bày chi tiết dưới đây.1 Tổng quan về kết cấu áo đường mềm.1 Cấu tạo chung Kết cấu áo đường mềm (hay gọi là áo đường mềm) (hình 1.1)gồm có tầng mặt làm bằng các vật liệu hạt hoặc các vật liệu hạt có trộn nhựa hay tưới nhựa đường và tầng móng làm bằng các loại vật liệu khác nhau đặt trực tiếp trên khu vực tác dụng của nền đường hoặc trên lớp đáy móng. Để chịu được các tác dụng đó, tầng mặt đòi hỏi phải được làm bằng các vật liệu có cường độ và sức liên kết tốt (các khoáng chất có cường độ cao được chèn móc tốt hoặc các hỗn hợp vật liệu có dùng thêm chất dính kết vô cơ hoặc hữu cơ). Ngoài ra lớp mặt trên thường dùng vật liệu kích cỡ nhỏ vừa để giảm phá hoại bong bật do lực ngang, nếu lớp mặt trên có bề dày dưới 3cm thì lớp mặt trên đó gọi là lớp hao mòn. Khi sức liên kết của vật liệu không đủ so với lực tác dụng của xe chạy (khi cường độ vận tải 3 lớn…) thì trên lớp mặt trên còn được làm thêm lớp hao mòn và lớp bảo vệ để hạn chế bớt được tác dụng xung kích, xô trượt, mài mòn trực tiếp của bánh xe và ảnh hưởng xấu khác của thiên nhiên xuống lớp phía dưới [8].
Lớp hao mòn là một lớp mỏng 1-3cm làm bằng vật liệu có dính kết (nhiều hoặc ít) đặt trên lớp mặt chủ yếu. Trong tính toán kết cấu áo đường, lớp hao mòn và lớp bảo vệ không được tính vào bề dày của tầng mặt. Lớp mặt dưới (lớp liên kết) thường dùng làm bằng bê tông nhựa rỗng, nhiều hoặc vừa đá dăm và bắt buộc phải bố trí trong trường hợp sau: - Lưu lượng xe lớn và nhiều xe nặng khi bề dày lớp mặt trên dưới 5cm - Mặt đường có yêu cầu cao về độ bằng phẳng - Tầng móng là vật liệu gia cố chất liên kết vô cơ (có thể lan truyền nứt lên phía trên). Khác với tầng mặt, tầng móng chỉ chịu lực thẳng đứng.
Về mặt cơ học nhiệm vụ của tầng móng là truyền và phân bố lực thẳng đứng xuống nền đất để khi truyền đến nền đất thì ứng suất sẽ giảm đến một mức độ đảm bảo cho nền đường có thể chịu đựng được mà không tạo nên biến dạng thẳng đứng hoặc biến dạng trượt quá lớn. Vì lực thẳng đứng truyền xuống ngày càng bé đi nên để tiết kiệm, tầng móng có thể gồm nhiều lớp bằng các loại vật liệu khác nhau có cường độ giảm dần từ trên xuống.1 Sơ đồ các tầng, lớp của kết cấu áo đường mềm và kết cấu nền - áo đường TÇng mÆt Lí p t¹ o nh¸ m (nÕu c ã) (ha y kÕt c Êu ¸ o ®- êng ) Lí p mÆt (Surfa c ing ) (Pa vement struc ture) ¸ o ®- êng (KÕt c Êu tæng thÓ nÒn mÆt ®- êng ) Lí p mãng trª n (Ba se) TÇng mãng KÕt c Êu nÒn ¸ o ®- êng Lí p mãng d - í i (Sub -b a se) Khu vùc t¸ c d ông 80-100 c m Lí p ®¸ y mãng (Ca p p ing la yer) (Sub g ra d e) 1.2 Yêu cầu vật liệu Hỗn hợp vật liệu để tạo nên các lớp kết cấu mặt đường thường gồm hai loại: vật liệu chính (hay gọi là cốt liệu) và vật liệu liên kết. Cốt liệu thường là đất, đá, cuội sỏi… mà bất cứ tầng, lớp nào trong kết cấu mặt đường cũng đều phải dùng một trong các loại đó. Còn vật liệu liên kết được trộn vào cốt liệu với một tỉ lệ nhất định để tăng cường liên kết giữa các hạt cốt liệu, do đó tăng cường độ của cả hỗn hợp vật liệu.
Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu cũng như điều kiện làm việc của mỗi tầng, lớp có thể có những tầng lớp không cần vật liệu liên kết. Vật liệu liên kết gồm 3 loại: vật liệu liên kết thiên nhiên (như đất sét dính), vật liệu liên kết vô cơ (xi măng, vôi…), vật liệu liên kết hữu cơ (nhựa, các chất hóa học…)[8]. 5 Ngoài cốt liệu và vật liệu liên kết ra, nhiều khi người ta còn dùng thêm các chất phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ. Mục đích chính của việc dùng các phụ gia thường là để cải thiện điều kiện tiếp xúc và bao bọc nhằm giúp cho tác dụng của vật liệu liên kết đối với cốt liệu được tốt hơn, nhờ đó tăng được cường độ của hỗn hợp vật liệu, hoặc tạo điều kiện cho việc thi công dễ dàng hay nhằm tăng cường một số tính chất đặc biệt nào đó của hỗn hợp vật liệu (tăng tính dẻo, tính ổn định nhiệt…).
Từ nguyên lý cấu tạo của kết cấu áo đường như đã trình bày ở trên và nhiệm vụ của từng lớp vật liệu thì vật liệu sử dụng để làm kết cấu áo đường hiện nay thường có cường độ giảm dần từ trên xuống dưới. Việc phối hợp thành phần vật liệu, tỷ lệ phối hợp giữa các thành phần dựa vào một trong các nguyên lý sau[9]: + Nguyên lý đá chèn đá: + Nguyên lý lát, xếp + Nguyên lý cấp phối: + Nguyên lý gia cố đất: Xuất phát từ yêu cầu về cường độ và điều kiện khai thác, lựa chọn loại tầng mặt và vật liệu làm tầng mặt cho phù hợp: Bảng 1.1: Lựa chọn loại tầng mặt và vật liệu làm tầng mặt[2] Số trục xe tiêu Cấp thiết kế Thời chuẩn tích lũy đường hạn Loại tầng trong thời hạn (theo Vật liệu và cấu tạo tầng mặt thiết mặt thiết kế (trục TCVN kế xe tiêu 4054) (năm) chuẩn/làn) Bê tông nhựa chặt loại I hạt nhỏ, hạt trung làm lớp mặt Cấp I, II, III Cấp cao A1 trên; hạt trung, hạt thô (chặt 10 > 4.106 và cấp IV hoặc hở loại I hoặc loại II) làm lớp mặt dưới 6 Số trục xe tiêu Cấp thiết kế Thời chuẩn tích lũy đường hạn Loại tầng trong thời hạn (theo Vật liệu và cấu tạo tầng mặt thiết mặt thiết kế (trục TCVN kế xe tiêu 4054) (năm) chuẩn/làn) - Bê tông nhựa chặt loại II, đá 8-10 > 2.106 dăm đen và hỗn hợp nhựa nguội trên có láng nhựa Cấp III, IV Cấp cao A2 - Thấm nhập nhựa và cấp V - Láng nhựa (cấp phối đá dăm, 5-8 > 1.106 đá dăm tiêu chuẩn, đất đá gia cố trên có láng nhựa) 4-7 > 0.106 Cấp phối đá dăm, đá dăm nước, hoặc cấp phối thiên Cấp IV, V Cấp thấp B1 nhiên trên có lớp bảo vệ rời rạc 3-4 0,1.106 và VI (cát) hoặc có lớp hao mòn cấp phối hạt nhỏ - Đất cải thiện hạt - Đất, đá tại chỗ, phế liệu công Cấp V và Cấp thấp B2 nghiệp gia cố (trên có lớp hao 2-3 < 0,1.106 cấp VI mòn, bảo vệ) 1.2 Tổng quan về bê tông nhựa 1.1 Khái niệm và phân loại 1.1 Khái niệm Hỗn hợp bê tông nhựa được chế tạo bằng các vật liệu đá, cát, bột khoáng (có hoặc không) và nhựa bitum ở trạng thái nóng trong bộ thiết bị của trạm bê tông trộn nhựa có thể được khống chế chặt chẽ theo quy định các tỷ lệ của các thành phần hỗn hợp bê tông nhựa [3].2 Phân loại [9] Theo phương pháp thi công - Bê tông nhựa không cần lu lèn - Bê tông nhựa cần lu lèn Theo nhiệt độ lúc rải - Bê tông nhựa rải nóng: chế tạo ở t0: 140-1700C; rải ở t0>1000C - Bê tông nhựa rải ấm: chế tạo ở t0: 110-1300C; rải ở t0>600C - Bê tông nhựa rải nguội: chế tạo ở t0: 110-1200C; rải ở t0 không khí Theo độ rỗng còn dư - Bê tông nhựa chặt: độ rỗng còn dư từ 3-6% - Bê tông nhựa rỗng: độ rỗng còn dư từ 6-10% Theo kích thước của hạt lớn nhất - Bê tông nhựa hạt thô: dmax = 40mm - Bê tông nhựa hạt trung: dmax = 25mm - Bê tông nhựa hạt mịn: dmax = 15mm - Bê tông nhựa cát: dmax = 5mm Theo hàm lượng đá dăm (cỡ hạt từ 5mm trở lên) - Bê tông nhựa nhiều đá dăm (A): đá dăm chiếm từ 50-65% - Bê tông nhựa vừa đá dăm (B): đá dăm chiếm từ 35-50% - Bê tông nhựa ít đá dăm (C): đá dăm chiếm 20-35% - Bê tông nhựa cát xay (D) - Bê tông nhựa cát thiên nhiên (E) Theo chất lượng: Bê tông nhựa loại I, loại II, loại III và loại IV 8 1.2 Yêu cầu về vật liệu đối với hỗn hợp bê tông nhựa Đá dăm: Đá dăm dùng làm bê tông nhựa phải là loại đá được đập vỡ, xay ra từ các khối đá núi, từ các tảng đá, từ cuội và xỉ lò cao không bị phân hủy. Theo [3] thành phần hạt yêu cẩu của cấp phối đá dăm dùng để chế tạo hỗn hợp được quy định ở Bảng 1.1 - Phụ lục Các chỉ tiêu cơ lý của đá dăm dùng cho từng loại bê tông nhựa phải thoả mãn các quy định ở Bảng 1.2 - Phụ lục Cát: Là một thành phần của cốt liệu bê tông nhựa, vai trò của nó là để lấp các lỗ rỗng giữa các hạt vật liệu to. Riêng trong bê tông nhựa cát nó là cốt liệu chủ yếu Để chế tạo bê tông nhựa phải dùng cát thiên nhiên hoặc cát xay.
Đá để xay ra cát phải có cường độ nén không nhỏ hơn của đá dùng để sản xuất ra đá dăm. Cát thiên nhiên phải có môđun độ lớn (MK) > 2. Trường hợp MK < 2 thì phải trộn thêm cát hạt lớn hoặc cát xay từ đá ra. Xác định theo TCVN 342-86.
Đối với bê tông nhựa cát phải dùng cát hạt lớn hoặc cát hạt trung có M K > 2 và hàm lượng cỡ hạt 5mm - 1,25mm không dưới 14%. Bột khoáng Bột khoáng được nghiền từ đá cácbônát (đá vôi canxit, đô lô mit, đá dầu.) có cường độ nén không nhỏ hơn 200 daN/cm2 và từ xỉ bazơ của lò luyện kim hoặc xi măng. Đá cácbônát dùng sản xuất bột khoáng phải sạch, chứa bụi, bùn, sét không quá 5%. Các chỉ tiêu quy định cho bột khoáng ở Bảng 1.