Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Mai Trọng Hưng với đề tài "Nghiên cứu ứng dụng và kết quả phẫu thuật đặt dải băng qua lỗ bịt (Trans Obturator Tape – TOT) điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ" thuộc chuyên ngành Ngoại khoa (mã số: 9720104), được thực hiện tại Học viện Quân y dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Anh Tuấn.

Tiểu không kiểm soát (TKKS), đặc biệt là tiểu không kiểm soát khi gắng sức (TKKSKGS), là tình trạng rỉ nước tiểu không theo ý muốn xuất hiện khi có sự gia tăng áp lực trong ổ bụng (ho, hắt hơi, cười lớn, mang vác nặng, thay đổi tư thế). Tỷ lệ hiện mắc của TKKS trong cộng đồng phụ nữ dao động từ 25% đến 45%, trong đó TKKSKGS chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 53%). Bệnh lý tuy mang tính chất lành tính nhưng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tâm lý, đời sống sinh hoạt, công việc và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Trong lịch sử ngoại khoa, nhiều phương pháp can thiệp đã được áp dụng như phẫu thuật Kelly (1914), phẫu thuật Marshall - Marchetti - Krantz (1949), phẫu thuật Burch (1960), đặt dải băng dưới niệu đạo không kéo căng qua đường sau xương mu TVT (Ulmsten, 1996) và đặt dải băng qua lỗ bịt TOT (Delorme, 2001/2003). Kỹ thuật TOT được phát triển nhằm hạn chế các tai biến nghiêm trọng của đường vào sau xương mu (thủng bàng quang, thủng ruột, tổn thương mạch máu lớn).

Tại Việt Nam, kỹ thuật TOT mới được áp dụng trong những năm gần đây tại một số trung tâm ngoại khoa và sản phụ khoa. Tuy nhiên, các dữ liệu nghiên cứu trong nước còn hạn chế về quy mô, chưa có nhiều công trình theo dõi tiến cứu dọc trong thời gian dài để đánh giá hiệu quả bền vững cũng như kiểm soát tỷ lệ tai biến, biến chứng.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng liên quan đến chỉ định kỹ thuật đặt dải băng qua lỗ bịt điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật đặt dải băng qua lỗ bịt (TOT) điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu gồm 59 bệnh nhân nữ được chẩn đoán TKKSKGS và có chỉ định phẫu thuật đặt dải băng qua lỗ bịt tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong thời gian từ ngày 01/01/2013 đến tháng 05/2018.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các mốc lịch sử, cơ sở giải phẫu, sinh lý bệnh và các công trình nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế về chẩn đoán, điều trị TKKSKGS:

  • Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Các công trình nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn của Zhu L. và cs (2009) tại Trung Quốc ghi nhận tỷ lệ mắc TKKS ở phụ nữ là 30,9%; Yngvild S. và cs (1999) trên 27.936 phụ nữ chỉ ra TKKSKGS chiếm 53%, TKKSHH chiếm 36% và TGKKS chiếm 11%; Nigam A. và cs ghi nhận tỷ lệ TKKS ở 3 tháng cuối thai kỳ lên tới 75,25%. Về phẫu thuật TOT, các tác giả quốc tế đã tiến hành theo dõi trung và dài hạn: Karmakar D. và cs (2017) theo dõi 9 năm trên 341 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ khỏi 71,6%; Ulrich D. và cs (2016) theo dõi 10 năm trên 112 bệnh nhân đạt tỷ lệ khỏi 69%; Serati M. và cs (2017) theo dõi 10 năm trên 168 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ khỏi 92%; Abdel-fattah M. và cs (2012) theo dõi 3 năm trên 341 bệnh nhân đạt tỷ lệ thành công 73,1%; Natale F. và cs (2018) theo dõi 10 năm trên 136 ca đạt tỷ lệ khỏi 62,6%.
  • Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Lê Sĩ Trung (2006) công bố kết quả 15 ca TOT đầu tiên tại Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội với thời gian mổ trung bình 20 phút, tỷ lệ khỏi 93,3%; Lê Phúc Liên và cs (2011) báo cáo 22 ca với tỷ lệ khỏi 81,8% sau 1 tháng; Nguyễn Ngọc Tiến (2012) phẫu thuật TOT trên 126 bệnh nhân tại Bệnh viện Pháp Việt với tỷ lệ thành công 96,8% sau 1 năm theo dõi (tỷ lệ biến chứng 19,8%); Nguyễn Văn Ân và cs (2012) nghiên cứu trên 46 bệnh nhân tại Bệnh viện Bình Dân với thời gian theo dõi trung bình 23,6 tháng đạt tỷ lệ thành công 97% (ghi nhận 1 ca thủng bàng quang, 2 ca thủng góc âm đạo, 1 ca đau bẹn đùi, 2 ca tiểu gấp mới xuất hiện, 1 ca lộ mảnh ghép).
Tác giả / Nghiên cứu Năm công bố Số ca nghiên cứu Thời gian theo dõi Tỷ lệ khỏi / thành công Tỷ lệ biến chứng / phẫu thuật lại
Karmakar D. và cs 2017 341 9 năm 71,6% 4% đau; 7,96% phẫu thuật lại
Ulrich D. và cs 2016 112 10 năm 69,0% 9,0% phẫu thuật lại
Serati M. và cs 2017 168 10 năm 92,0% 14% bàng quang tăng hoạt
Abdel-fattah M. và cs 2012 341 3 năm 73,1% 6,0% phẫu thuật lại
Natale F. và cs 2018 136 10 năm 62,6% 8,1% phẫu thuật lại
Nguyễn Ngọc Tiến 2012 126 1 năm 96,8% 19,8% biến chứng chung
Nguyễn Văn Ân và cs 2012 46 23,6 tháng 97,0% Thủng BQ (1), thủng âm đạo (2), lộ băng (1)

Vị trí của luận án được xác định là công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu tại một bệnh viện chuyên khoa sản phụ khoa tuyến cuối (Bệnh viện Phụ sản Hà Nội), chuẩn hóa quy trình kỹ thuật TOT, khảo sát mối liên quan giữa các yếu tố sản phụ khoa/niệu khoa với chỉ định mổ và theo dõi dọc liên tục bệnh nhân tại 8 mốc thời gian từ sau mổ đến 24 tháng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và sinh lý bệnh

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết giải phẫu và sinh lý bệnh học niệu - phụ khoa:

  • Thuyết "Vùng chịu áp lực" của Enhorning: Giải thích sự kìm giữ nước tiểu nhờ áp lực ổ bụng truyền đều lên bàng quang và đoạn niệu đạo trên khi hai cấu trúc này cùng nằm trong ổ bụng. Khi mất sự nâng đỡ, niệu đạo tụt ra ngoài vùng áp lực, dẫn đến áp lực bàng quang vượt quá áp lực niệu đạo khi gắng sức.
  • Thuyết góc sau bàng quang - niệu đạo của Green T.H (1962): Nhấn mạnh góc sau bàng quang - niệu đạo bình thường từ 90° - 100° và trục nghiêng niệu đạo 30°.
  • Thuyết cấu trúc võng nâng đỡ sàn chậu của DeLancey J. (1994): Mô tả hệ thống nâng đỡ dưới niệu đạo gồm thành trước âm đạo, mạc nội chậu, cung gân mạc chậu và cơ nâng hậu môn tạo thành chiếc "võng" vững chắc để niệu đạo tựa vào và khép kín khi áp lực ổ bụng tăng cao.
  • Hai cơ chế bệnh sinh chính của TKKSKGS:
    1. Tăng di động quá mức cổ bàng quang - niệu đạo (Hypermobility) do tổn thương, suy yếu hệ thống cân cơ sàn chậu sau mang thai và sinh đẻ.
    2. Suy giảm chức năng nội tại của cơ thắt niệu đạo (Intrinsic Sphincter Deficiency - ISD).

Phân loại và thang điểm đánh giá

  • Phân loại TKKSKGS theo Blaivas: Gồm 4 mức độ (Loại 0, Loại 1, Loại 2A, Loại 2B, Loại 3) dựa trên mức độ di động của cổ bàng quang và tình trạng mở của cổ bàng quang/niệu đạo khi nghỉ hoặc khi gắng sức.
  • Phân loại lâm sàng 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (rỉ nước tiểu khi gắng sức mạnh: ho, hắt hơi), Giai đoạn 2 (gắng sức trung bình: chạy, chơi thể thao), Giai đoạn 3 (gắng sức nhẹ: đi bộ, thay đổi tư thế).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thuần tập tiến cứu, mô tả cắt ngang có theo dõi dọc.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả một tỷ lệ: $$n = \frac{Z^2_{1-\alpha/2} \cdot p \cdot (1-p)}{d^2}$$ Với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), sai số tuyệt đối mong muốn $d = 0,05$, tỷ lệ thành công dự kiến $p = 0,968$ (theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tiến, 2012). Cỡ mẫu lý thuyết tính toán là $n = 48$. Thực tế triển khai từ 01/2013 đến 05/2018 thu nhận được $n = 59$ bệnh nhân.
  • Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân nữ được chẩn đoán TKKSKGS đơn thuần hoặc thể hỗn hợp ưu thế gắng sức; nghiệm pháp Bonney dương tính; được phẫu thuật TOT lần đầu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội; đầy đủ hồ sơ bệnh án; đồng ý tham gia nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Sa sinh dục nặng (độ 3); mới sinh con dưới 12 tháng; tiền sử xạ trị vùng chậu; tiền sử phẫu thuật tạo hình bàng quang bằng quai ruột/cơ thắt nhân tạo; phẫu thuật vùng chậu trong vòng 24 tháng; tái phát sau mổ TOT từ nơi khác; từ chối tham gia.
  • Quy trình và phương tiện phẫu thuật: Sử dụng bộ dụng cụ TOT chuyên dụng gồm kim dẫn đường qua lỗ bịt và dải băng tổng hợp Polypropylene không kéo căng. Bệnh nhân nằm tư thế sản khoa, thực hiện vô cảm (tê tủy sống hoặc toàn thân), rạch niêm mạc thành trước âm đạo dưới đoạn giữa niệu đạo, bóc tách khoang cạnh niệu đạo hướng về lỗ bịt, luồn kim TOT qua màng bịt, đặt dải băng dưới đoạn giữa niệu đạo không co kéo (đặt kéo đầu tù làm cữ đệm giữa niệu đạo và dải băng), cắt phần băng thừa và khâu đóng niêm mạc âm đạo cùng các vết rạch da ngoài lỗ bịt.
  • Chỉ tiêu theo dõi và đánh giá: Đánh giá trong mổ (thời gian phẫu thuật, tai biến chảy máu, thủng bàng quang/âm đạo), đánh giá sau mổ 24 giờ (thang điểm đau VAS, thời gian rút ống thông tiểu, thể tích nước tiểu tồn dư), đánh giá khi ra viện và tái khám định kỳ sau 1, 3, 6, 9, 12, 18, 24 tháng.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương 1 trình bày toàn diện cơ sở lý luận của đề tài:

  1. Định nghĩa và phân loại: Định nghĩa chuẩn hóa của Hội Quốc tế Kiểm soát Tiểu tiện (ICS) về TKKS, TKKSKGS, tiểu gấp không kiểm soát (TGKKS), tiểu không kiểm soát hỗn hợp (TKKSHH), tiểu tràn đầy, tiểu phản xạ, tiểu dầm và tiểu không kiểm soát chức năng. Chi tiết hóa phân loại của Blaivas và phân loại 3 mức độ gắng sức.
  2. Giải phẫu và sinh lý tiểu tiện: Mô tả cấu trúc bàng quang, 3 đoạn niệu đạo nữ (niệu đạo gần, niệu đạo giữa, niệu đạo xa), hệ thống cơ đáy chậu (cơ nâng hậu môn gồm cơ mu-cụt, mu-trực tràng, chậu-cụt; hoành niệu dục) và hệ thần kinh chi phối (giao cảm T10-L2, phó giao cảm S2-S4, thần kinh thẹn S2-S4, thụ thể P2X3).
  3. Thực trạng và yếu tố nguy cơ: Tổng hợp các yếu tố nguy cơ gồm tuổi cao (OR tăng 1,2 lần mỗi 5 năm), chỉ số khối cơ thể (BMI tăng làm tăng áp lực ổ bụng), tiền sử mang thai và sinh con đường âm đạo (tăng nguy cơ gấp 5 lần so với chưa sinh con theo Faundes A.), số lần sinh đẻ, phẫu thuật cắt tử cung, hoạt động thể lực nặng và các bệnh hô hấp mạn tính gây ho kéo dài. Tác động tiêu cực của TKKS tới giấc ngủ, tâm lý mặc cảm và chất lượng cuộc sống.
  4. Chẩn đoán và điều trị: Khám lâm sàng kết hợp nhật ký đi tiểu, các nghiệm pháp chuyên biệt (test Valsalva, test ho, nghiệm pháp Bonney, test Q-tip, Pad-test), siêu âm đo thể tích nước tiểu tồn dư (PVR), đo áp lực bàng quang và niệu động học. Các biện pháp điều trị bảo tồn (tập cơ đáy chậu Kegel, biofeedback, kích thích điện, điện châm, giảm cân, dùng thuốc Duloxetine/estrogen) và các phương pháp ngoại khoa (treo cổ bàng quang kiểu Marshall - Marchetti - Krantz, Burch, dải treo mu - âm đạo Pubovaginal sling, tiêm chất làm đầy bulking agent, dải băng nâng niệu đạo giữa TVT và TOT theo kỹ thuật outside-in hoặc inside-out).

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận thực nghiệm:

  • Địa điểm và thời gian: Tiến hành tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 01/2013 đến tháng 05/2018 trên 59 bệnh nhân nữ thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu.
  • Thiết kế nghiên cứu: Thuần tập tiến cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc theo các mốc thời gian xác định.
  • Quy trình kỹ thuật phẫu thuật TOT chuẩn hóa:
    1. Chuẩn bị bệnh nhân, sát khuẩn, đặt thông tiểu Foley.
    2. Rạch dọc niêm mạc thành trước âm đạo tương ứng đoạn giữa niệu đạo (cách lỗ niệu đạo ngoài khoảng 1 cm, dài 1,5 cm).
    3. Bóc tách mô quanh niệu đạo sang hai bên hướng về cành ngồi - mu bằng kéo đầu tù.
    4. Xác định điểm rạch da ngoài tương ứng nếp lằn bẹn - đùi ngang mức lỗ niệu đạo.
    5. Đưa kim TOT từ ngoài qua màng bịt luồn vào đầu ngón tay định vị trong âm đạo để kéo dải băng qua lỗ bịt.
    6. Điều chỉnh độ căng của dải băng: Đặt một cành kéo Metzenbaum giữa dải băng và niệu đạo để đảm bảo dải băng nằm dưới niệu đạo hoàn toàn không kéo căng (tension-free).
    7. Rút vỏ bọc bảo vệ, cắt dải băng sát dưới da hai bên, khâu phục hồi niêm mạc âm đạo bằng chỉ tiêu và khâu da lỗ chọc kim.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu và xử lý thống kê: Mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất, ghi nhận các biến số nhân khẩu học, lâm sàng, cận lâm sàng, biến số trong mổ và các mốc tái khám (1, 3, 6, 9, 12, 18, 24 tháng). Đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng được tổng hợp qua hệ thống bảng và biểu đồ nghiên cứu:

  • Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước phẫu thuật (n = 59):
    • Tuổi trung bình, phân bố theo nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn.
    • Tiền sử thai sản: Đa số bệnh nhân có tiền sử sinh đường âm đạo nhiều lần, nạo hút thai.
    • Phân bố theo mức độ gắng sức, mức độ rỉ nước tiểu, phân loại TKKSKGS theo Blaivas và phân bố chỉ số khối cơ thể (BMI).
    • Kết quả thăm dò chức năng: Tỷ lệ dương tính của các test chẩn đoán (nghiệm pháp Bonney, test gắng sức, nghiệm pháp ho), lượng nước tiểu tồn dư (PVR) đo trước mổ và mối tương quan giữa thể tích nước tiểu tồn dư với tuổi và mức độ bệnh.
  • Kết quả trong phẫu thuật và hậu phẫu sớm:
    • Thời gian phẫu thuật trung bình (phút), phương pháp vô cảm (tê tủy sống là chủ yếu).
    • Tỷ lệ tai biến trong mổ: Đánh giá tỷ lệ thủng bàng quang, thủng góc âm đạo, chảy máu.
    • Diễn tiến hậu phẫu 24 giờ: Mức độ đau theo thang điểm VAS sau 24 giờ, thời gian lưu và rút ống thông tiểu, tình trạng đi tiểu tự chủ sau rút thông tiểu.
    • Tình trạng lâm sàng, lượng nước tiểu 24 giờ và lượng nước tiểu tồn dư tại thời điểm ra viện.
  • Kết quả điều trị theo dõi dọc từ 1 tháng đến 24 tháng:
    • Tỷ lệ khỏi hoàn toàn, tỷ lệ cải thiện và tỷ lệ thất bại/tái phát tại các mốc: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng.
    • Tỷ lệ các biến chứng muộn: Đau vùng bẹn đùi, bí tiểu sau mổ, tiểu gấp mới xuất hiện (de novo urgency), xói mòn/lộ mảnh ghép tổng hợp vào âm đạo hoặc niệu đạo.

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Chương 4 phân tích, so sánh các kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về đặc điểm đối tượng nghiên cứu: Phân tích ảnh hưởng của tuổi tác, chỉ số BMI, tiền sử mang thai, số lần sinh thường đường âm đạo và các phẫu thuật phụ khoa trước đó đối với sự suy yếu sàn chậu và cơ chế đóng niệu đạo. Đánh giá tính chính xác và giá trị tiên lượng của nghiệm pháp Bonney trong việc chỉ định phẫu thuật đặt dải băng nâng đỡ niệu đạo.
  • Bàn luận về kỹ thuật và độ an toàn của phẫu thuật TOT:
    • So sánh thời gian thực hiện phẫu thuật, lượng máu mất và phương pháp vô cảm giữa TOT với TVT và phẫu thuật Burch.
    • Phân tích nguyên nhân và cách phòng tránh các biến chứng trong mổ (hướng đi của kim qua lỗ bịt nhằm tránh tổn thương bàng quang và bó mạch thần kinh bịt).
    • Đánh giá mức độ đau sau mổ (thang điểm VAS) và thời gian nằm viện ngắn của phẫu thuật ít xâm lấn.
  • Bàn luận về hiệu quả điều trị lâu dài qua 24 tháng theo dõi:
    • So sánh tỷ lệ thành công bền vững của kỹ thuật TOT tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội với các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Văn Ân, Lê Sĩ Trung) và các tác giả quốc tế (Karmakar, Serati, Abdel-fattah, Natale).
    • Phân tích các trường hợp thất bại, tái phát hoặc xuất hiện triệu chứng tiểu gấp mới sau mổ, từ đó rút ra các yếu tố liên quan đến tiên lượng điều trị.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng có hệ thống về bệnh lý tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ Việt Nam tại một trung tâm sản phụ khoa chuyên sâu.
  2. Chứng minh giá trị chẩn đoán xác định và giá trị định hướng can thiệp của nghiệm pháp Bonney kết hợp thăm dò thể tích nước tiểu tồn dư trong chỉ định phẫu thuật đặt dải băng nâng niệu đạo.
  3. Bổ sung bằng chứng khoa học khẳng định cơ chế nâng đỡ đoạn giữa niệu đạo theo nguyên lý dải băng không kéo căng qua lỗ bịt giúp tái lập góc giải phẫu và áp lực đóng niệu đạo sinh lý.

Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng

  1. Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật TOT (từ khâu chuẩn bị, định vị giải phẫu, kỹ thuật đưa kim qua lỗ bịt, kỹ thuật điều chỉnh độ căng dải băng bằng cữ kéo, đến chăm sóc hậu phẫu) tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, đảm bảo tính an toàn cao, thời gian mổ ngắn và hạn chế tối đa tai biến tổn thương bàng quang.
  2. Thiết lập quy trình theo dõi dọc dài hạn (đến 24 tháng) giúp đánh giá toàn diện hiệu quả phục hồi chức năng tiểu tiện tự chủ và phát hiện sớm các biến chứng muộn như đau bẹn đùi, lộ mảnh ghép hay bàng quang tăng hoạt sau mổ.
  3. Đề xuất phẫu thuật TOT là giải pháp can thiệp ngoại khoa ưu tiên hàng đầu cho phụ nữ mắc TKKSKGS khi điều trị bảo tồn thất bại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện đơn trung tâm tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội với cỡ mẫu 59 bệnh nhân; thời gian theo dõi dọc đạt 24 tháng (mức độ trung hạn so với các nghiên cứu quốc tế có thời gian theo dõi 5 đến 10 năm); các xét nghiệm niệu động học chuyên sâu chưa được thực hiện đồng loạt cho tất cả các đối tượng nghiên cứu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn.
    2. Kéo dài thời gian theo dõi bệnh nhân sau mổ từ 5 đến 10 năm để đánh giá tỷ lệ bền vững và thoái hóa vật liệu ghép theo thời gian.
    3. Ứng dụng rộng rãi thăm dò niệu động học trước và sau mổ để đánh giá chi tiết các thay đổi áp lực bàng quang - niệu đạo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao đối với:

  • Bác sĩ Ngoại Tiết niệu và Sản Phụ khoa: Tham khảo quy trình chẩn đoán phân biệt các thể tiểu không kiểm soát, kỹ thuật thực hiện nghiệm pháp Bonney và từng bước thao tác phẫu thuật TOT an toàn, tránh biến chứng.
  • Học viên sau đại học, Nghiên cứu sinh: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu thuần tập tiến cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc, phương pháp tính cỡ mẫu và thiết kế công cụ thu thập số liệu lâm sàng trong niệu - phụ khoa.
  • Các nhà quản lý y tế và cơ sở khám chữa bệnh: Cung cấp cơ sở thực tiễn để triển khai kỹ thuật phẫu thuật ít xâm lấn điều trị TKKSKGS tại các khoa Ngoại/Phụ sản tuyến tỉnh và trung ương.

Câu hỏi thường gặp

1. Kỹ thuật TOT có điểm khác biệt căn bản nào so với kỹ thuật TVT truyền thống?
Kỹ thuật TVT (Ulmsten, 1996) đưa dải băng qua khoang sau xương mu lên thành bụng trước, tiềm ẩn nguy cơ làm thủng bàng quang, thủng ruột hoặc tổn thương các mạch máu lớn vùng chậu. Ngược lại, kỹ thuật TOT (Delorme, 2001) đưa dải băng đi qua lỗ bịt của xương chậu sang hai bên nếp lằn bẹn đùi, hoàn toàn không đi vào khoang sau xương mu, do đó làm giảm đáng kể nguy cơ thủng bàng quang và rút ngắn thời gian phẫu thuật.

2. Nghiệm pháp Bonney có ý nghĩa gì trong chỉ định phẫu thuật TOT?
Nghiệm pháp Bonney được thực hiện khi bàng quang đầy nước tiểu (> 250ml). Thầy thuốc dùng hai ngón tay nâng thành trước âm đạo ở hai bên đoạn giữa niệu đạo (không ép trực tiếp vào lòng niệu đạo) rồi yêu cầu bệnh nhân ho. Nếu nước tiểu ngừng rỉ khi nâng đỡ, nghiệm pháp dương tính. Nghiệm pháp dương tính chứng minh rằng việc tái lập một giá đỡ cơ học dưới niệu đạo sẽ giúp bệnh nhân kiểm soát được tiểu tiện khi gắng sức, là chỉ định trực tiếp cho phẫu thuật TOT.

3. Cỡ mẫu nghiên cứu 59 bệnh nhân của luận án được xác định dựa trên cơ sở nào?
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong nghiên cứu mô tả với độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$), sai số cho phép $d = 0,05$ và tỷ lệ thành công dự kiến $p = 0,968$ (lấy từ nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tiến năm 2012 trên 126 ca TOT). Cỡ mẫu tối thiểu tính toán là 48 bệnh nhân. Trong thời gian nghiên cứu từ 01/2013 đến 05/2018, tác giả đã thu nhận và theo dõi đầy đủ 59 bệnh nhân thực tế.

4. Quy trình theo dõi sau phẫu thuật của luận án bao gồm những mốc thời gian nào?
Bệnh nhân được theo dõi và đánh giá có hệ thống qua 9 mốc: trong mổ, sau mổ 24 giờ, thời điểm ra viện, và tái khám định kỳ sau khi ra viện tại các thời điểm 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Trọng Hưng là một công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu, giải quyết trọn vẹn hai mục tiêu về khảo sát đặc điểm chỉ định và đánh giá hiệu quả của phẫu thuật đặt dải băng qua lỗ bịt (TOT) trong điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ. Nghiên cứu khẳng định TOT là phương pháp ngoại khoa ít xâm lấn, thời gian thực hiện ngắn, độ an toàn cao, ít tai biến trong mổ và mang lại tỷ lệ khỏi bệnh vững chắc trong suốt thời gian theo dõi 24 tháng. Công trình có giá trị học thuật và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của chuyên ngành Ngoại khoa và Niệu - Phụ khoa tại Việt Nam.