CHƯƠNG 1 : TONG QUAN VE ÔN ĐỊNH CUA CÔNG TRÌNH TƯỜNG COC BAN VEN SÔNG VÀ KENH ĐÀO [1] [2] [3] [4] [5] 1. Đặt vẫn đề Hiện tượng mat 6n định bờ kè bảo vệ kênh đào hay ven sông vẫn xảy ra thường xuyên do nhiều nguyên nhân, đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và của, ảnh hưởng đến sản xuất và cuộc sống đồng bào ở khu vực vốn đã gặp nhiễu khó khăn. Đặc biệt là ở khu vực tập trung nhiều kênh rạch, sông ngòi chang chit, những khu vực giáp với bờ sông thường tập trung lượng dân cư dong, là nơi giao dịch buôn bán, vận chuyển hàng hóa đường thủy đến các vùng .1 Sat Io đê kè hữu Sông Mã — thành phố Thanh Hóa Cùng với hiện tượng sạt lở bờ sông liên tiếp xảy ra khi lũ về, khiến cho người dân ở vùng ven sông luôn luôn lo sợ mối nguy hiểm đến tính mạng và thiệt hại về tài sản và phải di dời đi nơi khác. Những tốn thất về hiện tượng sat lỡ bờ sông đã xảy ra trong những thập niên gần đây qua là nặng né và thực sự là lực can lớn nhất đến quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ta ngày nay.
Đề khắc phục hiện tượng sạt lở, tuỳ theo địa chất, địa hình, đặt điểm dòng chảy và tải trọng tác dụng mà nhiều giải pháp tường chắn đã được thực hiện như: tường chắn bêtông cốt thép, tường chắn đất trọng lực thấp, tường bán trọng lực, tường bản góc bêtông cốt thép, bờ kè bằng ro đá, bờ kè bằng thép hình, đê dap. Tường cọc bản cũng là một phương án được chọn để bảo vệ bờ sông, các công trình ven bờ, hiện nay đang được ứng dụng tại một SỐ công trình tương đối quan trọng. Tường cọc bản, là một dạng đặc biệt của tường chăn đất với mục đích chung là chịu tải trọng ngang gây ra bởi mặt đất tự nhiên, đất dap, tai trong bén trén. Hé thống kết cấu bao gồm tường và hệ kết cau chống đở tường (thanh neo, thanh chống, sàn đỡ .), ngoài ra tường còn ngam vào trong đất bên dưới.
Trong hau hết các trường hop, đất vừa gây ra lực tác động lên tường đồng thời vừa là kết cấu chống đỡ hay giữ tường, tạo ra sự dịch chuyển cơ học của hệ kết cau trong đất. Người thiết kế phải biết xác định nội lực và mức độ chuyền dịch của kết cấu. Thông thường, chúng được xác định trong điều kiện làm việc cực hạn. Bên cạnh đó, cũng can xác định mức độ chuyền dịch tiềm tang của đất có thể xảy ra trong quá trình thi công kết câu theo thời gian vì sự thoát nước bên trong xuất hiện.
Do đó, ảnh hưởng của ứng xử đất trong quá trình thi công đến sự làm việc của tường cọc bản là rất lớn do đó cần phải xem xét. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tiêu chuẩn thiết kế trong nước cho loại công trình sử dụng tường cọc bản này, việc kiểm tra 6n định tường vẫn thực hiện theo các tiêu chuẩn nước ngoài. Nhu câu về thiết kế công trình tường cọc bản phù hợp với điều kiện địa chất khu vực là một nhu cầu có thực, việc tìm ra được giải pháp an toàn với chi phí hợp lý là mong muốn của rất nhiều kỹ sư xây dựng hiện nay. Tổng quan về đất yếu Dat yếu là loại đất không có khả năng tiếp nhận trực tiếp tải trọng từ công trình.
Hiện nay, không có định nghĩa rõ ràng về đất yếu và phần lớn các nước trên thế giới thường thống nhất định nghĩa về nền đất như sau: e>l c <5 KN/m2 W(%) > 60% @ <10° IL>1 E < 5000 KN/m? Theo tiéu chuan Viét Nam TCXD 245:2000, dat yéu duoc dinh nghia nhu sau: “?è dat yếu nếu ở trạng thái tự nhiên độ dm cua chúng gân bang hoặc cao hon giới hạn chảy, hệ số rong lớn, lực dính C theo cắt nhanh không thoát nước 0.15daN/cm’ trở xuống, góc nội ma sát từ 0° đến 10° hoặc lực dính từ kết quả cốt cánh hiện trường C„< 0. Cac dang tường cọc bản [1] [2] [3] [4]. Giới thiệu chung : Tường cọc bản nói chung là dùng để chống lại áp lực ngang do đất, nước và các tải trọng phía trên gây ra va đạt trạng thái 6n định nhờ sức chống ngang của đất phía trước tường khi tường cọc bản hạ sâu xuống đất và nhờ các hệ thống neo phía sau tường. Vật liệu chế tạo tường cọc bản thường là thép hay bê tông cốt thp dự ứng lực trước.
Các tiết diện ngang của tường cọc bản rất đa dạng nhằm cho tường có khả năng chịu uốn cao với diện tích tiết diện ngang nhỏ. Tường cọc bản được ứng dụng khá phô biến trong các công trình cảng, bến tàu, tường chan, đê chắn sóng, tang ham các nhà cao tầng. Cac dang tường coc bản bảo vệ công trình ven sông, kênh dao. Tường cọc bản là loại tường mềm được phân loại theo các cách sau : Theo vật liệu có thể chia thành các dạng sau + Tường coc bản nhựa (vinyl sheet piling) + Tường coc bản thép (steel sheet piling) + Tường cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực (PC sheet piles) 1.
Tường cọc bản nhựa Hình 1.2 Tường cọc bản nhựa bờ kè [2| Cau tao: Cac tường cọc ban nhựa được nha thiết kế tao ra với nhiều kích thước khác nhau. Có những mắt dé nối giữa các bản nhựa với nhau. Có dầm ốp băng gỗ trên đỉnh tường. Dé tránh va đập, người ta đóng gia cường thêm cọc gỗ phía ngoài dé chịu va đập của thuyén bè .3 Một loại tường cọc ban nhựa theo tiêu chuẩn ASTM(don vi inches)[3] Pham vi sử dụng: Được sử dụng rất đa dạng, có thé sử dụng làm tường kè chăn kênh dao, sông ngòi, bờ đê chan giữ sóng ngoài biển, bờ bao cho công trình nhà ở ven sông, thoát nước, xử lý nước thải, vách ngăn.
Uu điểm: Có độ bên cao, có thé sử dụng tới 50 năm, giá thành thấp, phù hợp với môi trường, không bị ảnh hưởng bởi xâm thực. nước biến, thi công đơn giản, các khóa liên kết giữa các tâm tường cọc bản nhựa rất khít do đó sự rò rỉ của nước là không xảy ra. Nhược điểm : Công nghệ mới, chưa được áp dụng pho biến rộng rãi. Tường cọc bản băng thép Cấu tao: Tường cọc ban chắn đất làm bang thép định hình có tiết diện: hình chữ Z, chữ I, hình máng, cir Larsen, thép ống.
có chiều dài từ 5 + 22m. Dam ốp có cau tạo là 2 thanh thép chữ I đặt cao hơn mực nước thi công 0,5m. Dam mũ bang bê tông cốt thép có tiết diện hình chữ nhật đồ tại chỗ. Các thanh neo bằng thép tròn ÿ75, Q80.
Mũ giữ thanh neo làm dâm bê tông cốt thép. Phạm vi sử dụng: Làm bờ kè có qui mô lớn, làm bến cảng nước sâu cho tàu có trọng tải lớn, bốc dở hàng hóa nặng. Xây dựng bảo vệ xói lở khu trung tâm dân cư, bảo vệ các công trình quan trọng ven sông. Ưu điểm: Tuoi thọ cao, tính công nghiệp lắp ghép cao, thi công nhanh.
Chịu được những nơi nước có tốc độ dòng chảy lớn, bị ngập lũ sâu. Nhược điểm: Giá thành cao do phải nhập cừ thép định hình từ nước ngoài. Thép bị ăn mòn ở những vùng có nước nhiêm phèn, nhiêm mặn. a) | Wy ⁄ b) 122202002000000000000000000/00000000000000000910//000000006a %⁄ ⁄ VA g A VA Z % ⁄4 A, ⁄ Z ⁄4 ⁄4 ⁄ # ⁄2 VA 2 ⁄ 2 ⁄2 2 2⁄⁄⁄⁄ a) Ván cọc phăng b) Ván cọc Larsen c) Ván cọc Khum Hình 1.4 Một số hình dang và liên kết của tường cọc ban bang thép [3] Hình 1.5 Coc thép dùng lam tường coc ban [3] 1.
Tường cọc ban bêtông cốt thép dự ứng lực Gidi thiệu: Cách đây hơn 50 năm, Tập đoàn PS MITSUBISHI (Nhật Bản) đã phát minh ra loại "cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực - PC Sheet Pile (gọi tắt là cọc bản PC)" với kiểu dáng hình học dạng sóng của mặt cắt tiết diện và đã được xây dựng thử nghiệm rất có hiệu quả ở Nhật. Cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực được ứng dụng lần đầu tiên tại Việt Nam khoảng năm 1999 - 2001 tại cụm công trình nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ - tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, làm kênh dẫn nước giải nhiệt cho nhà máy tuốc bin khí với chiều dài trên 1.000m, chiều rộng 45m, chiều sâu 8,7m- với sự giúp đỡ của các nha tu van Nhat Ban va đặc biệt sự hướng dan trực tiếp công nghệ thi công lắp đặt của nhà sáng chế ra cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực - Tiến sĩ ITOSHIMA. Hiện nay kênh này van bên vững và Nhật đã chuyền giao công nghệ này cho nước ta. Công nghệ cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực có nhiều tính năng vượt trội như cường độ chịu lực cao nhờ tiết điện dạng sóng và đặc tính dự ứng lực làm tăng độ cứng, khả năng chịu lực của cọc bản.
Do sản xuất tại công xưởng theo quy trình công nghệ tiên tiễn của Nhật Bản nên chat lượng được kiểm soát chặt chẽ, năng suất cao, chủng loại sản phẩm da dang, đáp ứng theo nhiều dạng công trình có địa hình va địa chất khác nhau. Tuổi thọ công trình cũng được nâng cao lên, bởi cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực được sản xuất từ những vật liệu có cường độ cao, khả năng chịu lực tốt nên giảm được rất nhiều trọng lượng vật tư cho công trình, dễ thay thế cọc mới khi những cọc cũ gặp sự có. Hơn nữa, cũng nhờ thép được chống gi, chống ăn mòn, không bị oxy hóa trong môi trường nước mặn cũng như nước phèn, chống được thâm thấu nhờ sử dung bang vật liệu Vinyl cloride khá bên vững. Ngoài ra, giá thành công nghệ này dễ chấp nhận so với công nghệ truyền thống, thi công dé dàng và chính xác, không can mặt bang rộng, chi cần xà lan và cau, vừa chuyên chở cau kiện vừa ép cọc là có thé thi công được.
Một ưu điểm nữa là trong xây dựng nha cao tầng dùng móng cọc ép ở các thành phố, có thể dùng cọc bản bê tông cốt thép dự ứng lực ép làm tường chắn chung quanh móng, để khi ép cọc, đất không bị dồn về những phía có thé gây hư hại những công trình kế cận như làm nứt tường, sập đô. Cau tao: Coc bản bang bê tông cốt thép dự ứng lực có 3 dạng chính bao gồm: Dạng sóng, dạng phăng, dạng mặt phăng/ lõm. Sử dụng bê tông cường độ cao 60MPa, và sử dụng cốt thép dự ứng lực với đường kính 12,7mm, số lượng tao cap tùy theo chiều dài loại cọc.