CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN 1.1 GIỚI THIỆU VỀ VẬT LIỆU NANO TiO2 1.1 Cấu trúc tinh thể của nano TiO2 Ở dạng bột, TiO2 thường có màu trắng ở điều kiện thường, khi nung nóng có màu vàng, khi làm lạnh lại có màu trắng. Khối lượng phân tử là 79,88g/mol, khối lượng riêng dao động trong khoảng từ 3,79 ÷ 4,23 g/cm3. TiO2 nóng chảy ở nhiệt độ cao khoảng 1870oC, không tan trong nước, không tan trong các acid thông thường như acid sulfuric, acid chlohydric… ngay cả khi nung nóng. Tuy nhiên với các hạt kích thước nanomet, TiO2 có thể tham gia một số phản ứng với acid và kiềm mạnh.
TiO2 có bốn dạng thù hình. Ngoài dạng vô định hình, nó có ba dạng tinh thể là anatase (tetragonal), rutile (tetragonal) và brookite (orthorhombic).1 Cấu trúc tinh thể pha rutlie (TiO2) Rutile: là trạng thái tinh thể bền phổ biến nhất của TiO2 (Hình 1. Pha rutile có mức năng lượng vùng cấm là 3,02 eV. Rutile là pha có độ xếp chặt cao nhất so với 2 pha còn lại, khối lượng riêng 4,2 g/cm3.
Rutile có kiểu mạng Bravais tứ phương với các hình bát diện xếp tiếp xúc nhau ở các đỉnh trong đó mỗi ion Ti4+ được ion O2- bao quanh kiểu bát diện, đây là kiến trúc điển hình của hợp chất có công thức MX2. Anatase: là pha có hoạt tính quang hoá mạnh nhất trong 3 pha. Anatase có năng lượng vùng cấm là 3,20 eV và khối lượng riêng 3,9 g/cm3. Anatase 6 e cũng có kiểu mạng Bravais tứ phương như rutile nhưng các hình bát diện xếp tiếp xúc cạnh với nhau và trục c của tinh thể bị kéo dài (Hình 1.
TiO2 dạng anatase có thể chuyển hoá thành TiO2 dạng rutile ở các điều kiện nhiệt độ phản ứng thích hợp. TiO2 có thể chuyển dạng anatase sang dạng rutile trong khoảng nhiệt độ từ 400÷1000oC tuỳ thuộc vào điều kiện và thiết bị phản ứng [26].2 Cấu trúc tinh thể pha anatase (TiO2) Brookite: có hoạt tính quang hoá rất yếu. Brookite có mức năng lượng vùng cấm là 3,4 eV, khối lượng riêng 4,1 g/cm3 (Hình 1.3 Cấu trúc tinh thể pha brookite (TiO2) 7 e Trong thực tế, pha tinh thể brookite của TiO2 rất ít gặp nền thường ít được đề cập trong các nghiên cứu và ứng dụng. Một số tính chất vật lý của TiO2 dạng anatase và rutile TT Tính chất vật lý Anatase Rutile 1 Cấu trúc tinh thể Tứ phương Tứ diện 2 Nhiệt độ nóng chảy (0C) 1800 1850 3 Khối lượng riêng (g/cm3) 3,84 4,20 4 Độ cứng Mohs 5,5-6,0 6,0-7,0 5 Chỉ số khúc xạ 2,54 2,75 6 Độ rộng vùng cấm (eV) 3,05 3,25 7 Hằng số điện môi 31 114 8 Nhiệt dung 12,96 13,2 riêng(cal/mol.0C) 9 Mức năng lượng vùng cấm 3,25 3,05 (eV) Các mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite khác nhau bởi sự biến dạng của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết giữa các octahedra.
Hình tám mặt trong rutile là không đồng đều do đó có sự biến dạng orthorhombic (hệ trực thoi) yếu. Các octahedra của anatase bị biến dạng mạnh hơn, vì vậy mức đối xứng của hệ là thấp hơn hệ trực thoi. Khoảng cách Ti – Ti trong anatase lớn hơn trong rutile nhưng khoảng cách Ti – O trong anatase lại ngắn hơn so với rutile. Trong cả ba dạng tinh thể thù hình của TiO2 các octahedral được nối với nhau qua đỉnh hoặc qua cạnh.
Những sự khác nhau trong cấu trúc mạng lưới dẫn đến sự khác nhau về mật độ điện tử giữa hai dạng thù hình rutile và anatase của TiO2 và đây là nguyên nhân của một số sự khác biệt về tính chất giữa chúng. Tính chất và ứng dụng của TiO2 phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc tinh thể các dạng thù hình và kích thước hạt của các dạng thù hình này. Chính vì vậy, khi điều chế TiO2 cho 8 e mục đích ứng dụng thực tế cụ thể người ta thường quan tâm đến kích thước, diện tích bề mặt và cấu trúc tinh thể của sản phẩm. Ngoài ba dạng thù hình tinh thể nói trên của TiO2, khi điều chế bằng cách thuỷ phân muối vô cơ của Ti4+ hoặc các hợp chất cơ titan trong nước ở nhiệt độ thấp người ta có thể thu được kết tủa TiO2 vô định hình.
Tuy vậy, dạng này không bền để lâu trong không khí ở nhiệt độ phòng hoặc khi được đun nóng thì chuyển sang dạng anatase. TiO2 có một số tính chất ưu việt thích hợp dùng làm chất xúc tác quang: • Hấp thụ ánh sáng trong vùng tử ngoại, cho ánh sáng trong vùng hồng ngoại và khả kiến truyền qua. • Là vật liệu có độ xốp cao vì vậy tăng cường khả năng xúc tác bề mặt. • Ái lực bề mặt TiO2 đối với các phân tử rất cao do đó dễ dàng phủ lớp TiO2 lên các loại đế với độ bám dính rất tốt.
• Giá thành thấp, dễ sản xuất với số lượng lớn, trơ hoá học, không độc, thân thiện với môi trường và có khả năng tương hợp sinh học cao.2 Cơ sở lý thuyết về quá trình quang xúc tác trên TiO2 1.1 Giới thiệu về gốc tự do hydroxyl OH Hiện nay, trong công nghệ xử lý môi trường, người ta ứng dụng ngày càng nhiều các quá trình oxy hoá nâng cao (Advanced Oxidation Processes - AOPs); bản chất của quá trình là tạo ra các gốc tự do OH để oxy hoá các chất hữu cơ trong môi trường nước. Gốc tự do OH là một tác nhân oxy hoá rất mạnh, không chọn lọc và có khả năng oxy hoá nhanh chóng hầu hết các chất hữu cơ. Thế oxy hoá của gốc tự do OH được so sánh với thế oxy hoá của các chất oxy hoá truyền thống thường sử dụng trong lĩnh vực môi trường tại bảng 1. Thế oxy hoá của một số chất oxy hoá Chất oxy hóa Thế oxy hóa (V) Clo 1,36 Brom 1,09 Iod 0,54 Clo dioxyt 1,57 Acid Hypochloric 1,49 Acid Hypoiodic 1,45 Pemanganate 1,68 HO2 1,70 H2O2 1,78 O3 2,07 [O] 2,42 2,80 OH Lỗ trống trên TiO2 (h+) 3,20 Qua bảng 1.2 cho thấy gốc tự do OH có thế oxy hoá rất cao.
Hơn thế nữa, gốc tự do OH có khả năng phản ứng với các chất hữu cơ với tốc độ nhanh hơn từ hàng triệu tới hàng chục tỷ lần so với các chất oxy hoá vẫn được coi là mạnh nhất trong công nghệ xử lý nước như Ozon (Bảng 1. Hằng số tốc độ phản ứng của OH và O3 đối với một số hợp chất hữu cơ trong môi trường nước Hằng số tốc độ phản ứng, M-1s-1 Hợp chất hữu cơ O3 OH Anken chứa clo 103 - 104 109-1011 Chất hữu cơ chứa S 10-1,6.103 109-1010 Phenol 103 109-1010 Hợp chất chứa N 10-102 108-1010 10 e Hợp chất chứa nhân 1-102 108-1010 thơm Xeton 1 109-1010 Alcohol 10-2-1 108-1010 Aldehyt 10 109 Các ankan 10-2 106-109 Do có thế oxy hoá cao nên một khi được tạo thành, gốc OH sẽ khơi mào cho một phản ứng dây chuyền. Dạng phản ứng phổ biến của OH với chất hữu cơ là sự tách nguyên tử hydro để bắt đầu chuỗi phản ứng oxy hoá RH + OH → H2O + R (1.4) ROO + RH → ROOH + R (1.5) Vì vậy, với sự hiện diện của oxy, sự tấn công của gốc tự do OH sẽ khơi mào cho một chuỗi phản ứng oxy hoá, dẫn đến sự vô cơ hoá các hợp chất hữu cơ mà con đường chính xác của các phản ứng oxy hoá này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Chẳng hạn, các hợp chất hữu cơ chứa clo trước tiên sẽ bị oxy hoá mạnh thành các sản phẩm trung gian như aldehyt và acid carboxylic và cuối cùng thành CO2, H2O và ion clo.
Nitơ trong hợp chất hữu cơ thường bị oxy hoá thành nitrat hoặc N2, lưu huỳnh bị oxy hoá thành sulfat [19], vv… Tốc độ oxy hoá của gốc tự do OH phụ thuộc vào nồng độ gốc OH, nồng độ của oxy và nồng độ của chất hữu cơ trong môi trường nước. Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ của gốc OH bao gồm: pH, nhiệt độ, thành phần ion trong dung dịch phản ứng và bản chất của phản ứng… Nói chung, khi được sử dụng thích hợp, các quá trình oxy hoá nâng cao sẽ có khả năng xử lý triệt để các chất ô nhiễm hữu cơ có nồng độ từ vài trăm ppm đến nhỏ hơn 5 ppb. Vì vậy, các phương pháp này được gọi là các quá trình xử lý nước của thế kỷ XXI. Nguyên lý của quá trình quang xúc tác trên TiO2 Hình 1.
Giản đồ năng lượng orbital liên kết của TiO2 trong anatase TiO2 ở pha tinh thể anatase có độ rộng năng lượng vùng cấm Eg = 3,2 eV, nhờ vậy TiO2 có thể hấp thu được bức xạ vùng tử ngoại gần (λ ≤ 387,5 nm), TiO2 sẽ hấp phụ các photon (hν) và khi đó điện tử e-CB trong vùng hoá trị sẽ được kích thích và nhảy lên vùng dẫn, để lại lỗ trống h+VB trong vùng hoá trị. Khi xuất hiện các lỗ trống quang sinh mang điện tích dương sẽ di chuyển ra bề mặt của hạt xúc tác, trong môi trường nước sẽ xảy ra những phản ứng tạo gốc tự do OH trên bề mặt chất xúc tác theo phương trình phản ứng sau: h+VB + H2O → OH + H+ (1.6) h+VB + OH- → OH (1.7) Mặt khác, khi xuất hiện electron quang sinh trên vùng dẫn, các electron quang sinh này cũng di chuyển ra bề mặt chất xúc tác. Nếu có mặt O2 hấp phụ trên bề mặt chất xúc tác sẽ xảy ra các phản ứng khử tạo gốc ion superoxit (O2- ) trên bề mặt và tiếp sau sẽ xảy ra phản ứng với nước tạo gốc OH như sau: e-CB + O2 → O2 - (1.9) H2O2 + eCB → OH + OH- (1.10) 12 e Ion OH- lại có thể tác dụng với lỗ trống quang sinh trên vùng hoá trị để tạo ra gốc tự do OH theo phản ứng (1. Mặt khác, các electron quang sinh trên vùng dẫn có xu hướng tái kết hợp với các lỗ trống quang sinh trên vùng hoá trị, kèm theo việc giải phóng nhiệt hoặc ánh sáng.
Chính quá trình này đã làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu TiO2.