Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về trà 1. Sinh thái học của trà Trà có phân loại thực vật thuộc ngành hạt kín Angiospermae, lớp song tử diệp Dicotyledonae, bộ trà Theales, họ Theaceae, chi Camellia (Thea), loài Camellia (Thea) sinensis (Khotrolava, 1985). Trà là cây lâu năm, có chu kì sống rất lâu, có thể đạt 60 – 100 năm hoặc lâu hơn.
Tuổi thọ kinh tế đối với một cây trà thương mại khoảng 50 – 65 năm tùy điều kiện môi trường và phương pháp trồng trọt. Trà cho năng suất cao vào mùa mưa từ tháng 5 – 11. Trà nguyên liệu sử dụng trong công nghiệp chế biến chủ yếu là một tôm và 2 – 3 lá non (Đỗ Ngọc Quỹ, 2003). Nguồn gốc cây trà Năm 1753, Carl Von Lenne, một nhà thực vật học người Thụy Điển đã nghiên cứu thu thập, phân loại các mẫu trà Trung Quốc, và lần đầu tiên đã đặt tên khoa học cây trà là Thea sinensis, phân thành hai giống trà: Thea bohea (trà đen) và Thea viridis (trà xanh), như vậy đã xác nhận Trung Quốc là nơi ra đời của cây trà (Yukihiko, 2001).
Đào Thừa Trân (Trung Quốc) đưa ra thuyết chiết trung được nhiều học giả thế giới công nhận. Theo thuyết này, cái nôi tự nhiên cây trà là khu vực gió mùa Đông Nam Á, vì ở Lào, Myanma, Trung Quốc và bắc Việt Nam đều có 4 những cây trà hoang dại. Các điều kiện về đất đai, khí hậu, lượng mưa của cả khu vực này đều rất phù hợp với sự sinh trưởng của cây trà, hợp thành một vườn trà nguyên thủy. Hơn nữa các cây trà mọc hoang dại tìm thấy rất nhiều học hai bờ các con sông lớn: Kim Sa Giang, Phú Long Giang, Salouen, Irravadi, Mê Kong, Bramapoutro.
Các con sông này đều bắt nguồn từ dãy núi ở cao nguyên Tây Tạng. Cây trà di thực về phía đông qua tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc), bị ảnh hưởng của khí hậu, nên biến thành giống trà lá nhỏ, di thực về phía nam và tây nam Ấn Độ, Myanma, Việt Nam biến thành giống lá to (Đỗ Ngọc Quỹ, 2008).Werkhoven, Hà Lan) chuyên viên của tổ chức Lương thực thế giới FAO, đã tổng kết trong cuốn Công nghệ trà (Tập san Nông nghiệp 26, Rooma, 1974): “Cây trà được Line xếp loại và đặt tên là Thea sinensis (L.) có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Trung Quốc gần nguồn sông Irrawadi (Myanma)” (Đỗ Ngọc Quỹ, 2008). Hiện nay trà được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau, từ 30o vĩ nam đến 45o vĩ bắc, là những nơi có điều kiện tự nhiên khí hậu khác xa vùng nguyên sản. Những thành tựu khoa học của các nhà chọn giống Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan.đã tạo ra rất nhiều giống trà mới có khả năng thích ứng với các điều kiện khí hậu khác nhau, tạo nhiều triển vọng cho nghề trồng trà trên thế giới.
Hợp chất polyphenol trong trà Phenol là những hợp chất thơm có nhóm hydroxyl đính trực tiếp với nhân benzen. Khi trong phân tử có nhiều nhóm hydroxyl đính trực tiếp với nhân benzen thì được gọi là polyhydroxylphenol (monomer), nhiều monomer gắn với nhau gọi là polyphenol (Phan Phước Hiền, 2010). Thành phần hóa học cơ bản trong lá trà tươi Thành phần % khối lượng chất khô Polyphenol 25 – 30 Flavonols và flavonol glucosides 3–4 Polyphenolic acids và depsides 3–4 Leuco anthocyanins 2–3 Chlorophylls và các chất màu khác 0,5 – 0,6 Khoáng 5–6 Caffeine 3–4 Theobromine 0,2 Theophylline 0,5 Amino acid 4–5 Acid hữu cơ 0,5 – 0,6 Monosaccharide 4–5 Polysaccharide 14 – 22 Cellulose và hemicellulose 4–7 Pectin 5–6 Lignin 5–6 Protein 14 – 17 Lipid 3–5 Các hợp chất bay hơi 0,01 – 0,02 (Harbowy và Balentine, 1997) Polyphenol là thành phần hóa học chủ yếu chiếm khoảng 30% khối lượng chất khô trong cây trà (Harbowy và Balentine, 1997; Vũ Thy Thư và ctv, 2010). Polyphenol hòa tan mạnh trong các dung môi phân cực như nước, methanol, ethanol, acetone và ether.
Một số các polyphenol liên kết với glucid tạo thành các glucoside dễ tan trong nước. Polyphenol có chứa gốc pyrocatechin hoặc pyrogallic 6 nên chúng có thể tham gia phản ứng oxy hóa – khử, phản ứng cộng và phản ứng ngưng tụ (Vũ Thy Thư và ctv, 2010). Các hợp chất polyphenol trong lá trà chủ yếu là catechin (C, EC, EGCG, EGC, ECG…). Ngoài ra trong thành phần polyphenol của trà còn có một số chất khác với tỉ lệ thấp như các flavonol (quercetin, kaempferol, rutin…), các dẫn xuất glucoside như myricetin-3-glucoside, kaempferol-3-glucoside, myricetin-3– rhamnoglucoside, quercetin-3-rhamnoglucoside, kaempferol-3- rhamnodiglucoside…, các leucoanthocyanin, các hợp chất polyflavonoid như theaflavin (theaflavin-3-gallate, theaflavin-3’-gallate, theaflavin-3,3’-digallate.
Chúng đều là những cấu tử có vai trò quyết định đối với chất lượng cảm quan và dược lý của trà. Hàm lượng polyphenol trong đọt trà giảm dần từ búp đến cuộng. Hàm lượng polyphenol trong cây trà thay đổi theo mùa trong năm, thay đổi theo vùng sinh thái và chế độ chăm bón. Tannin là một hợp chất polyphenol, dễ bị oxy hóa dưới tác dụng của chất xúc tác, enzyme và oxy.
Sản phẩm của sự oxy hóa này quyết định màu sắc, hương vị của trà. Đặc tính của tannin có vị chát. Tannin được chia thành 2 nhóm là tannin dễ bị thủy phân (tannin pyrogallic) và tannin không bị thủy phân (tannin catechin). Trong trà chiếm chủ yếu là tannin catechin, là hỗn hợp polymer của catechin và leucoanthocyanidin (Vũ Thi Thư và ctv, 2010).
Chất tannin trong trà càng nhiều thì phẩm chất trà càng cao. Tuy nhiên còn tùy thuộc vào lượng tannin có thể hoà tan trong oxydiethyl. Còn lượng tannin nhiều nhưng ở trạng thái kết hợp thì phẩm chất kém hơn. Lượng tannin trong trà nhiều hay ít phụ thuộc vào độ tuổi, thời kỳ hái, giống trà, điều kiện ngoại cảnh, phương pháp chế biến (Vũ Thy Thư và ctv, 2010).
7 Lượng tannin phân bố không đồng đều trên cùng một búp trà, tập trung nhiều nhất ở tôm (39,9%), rồi đến lá non (lá một 36,8%; lá hai 36,1%; lá ba 29,25%; cọng già 25%, lá bánh tẻ, lá già…). Hàm lượng tannin tăng dần từ đầu vụ (tháng 3, 4) đạt cực đại vào giữa tháng 7 rồi giảm dần vào mùa thu (Đỗ Ngọc Quỹ, 2008). Catechin: Các catechin là thành phần chính của chất tannin trong trà, chiếm tỉ lệ cao trong nhóm polyphenol (trên 70% tổng lượng polyphenol của lá trà). Catechin gây nên vị đắng và chát nhẹ cho trà.
Catechin là tác nhân chính tạo màu cho nước trà khi đã qua chế biến. Các catechin bị oxy hóa bởi enzyme polyphenol oxidase, đầu tiên sẽ hình thành hợp chất gọi là orthoquinones, các orthoquinone không bền sẽ chuyển hóa thành theaflavin (TF), các TF này khi phản ứng ngưng tụ tạo thành thearubigin (TR). Catechin của trà thuộc họ flavonoid, nhóm flavan-3-ol, phân tử có 15 carbon bao gồm hai vòng 6 carbon A và B được nối bởi 3 đơn vị carbon ở vị trí 2, 3, 4, hình thành một dị vòng C chứa một nguyên tử oxy. Cấu trúc của catechin có chứa hai carbon bất đối ở vị trí 2 và 3, không chứa nối đôi ở vị trí 2,3 và nhóm 4-oxo.
Cấu tạo khung cơ bản của hợp chất catechin và cách đánh số carbon (Ngô Văn Thu, 1998). Các catechin được chia thành 2 nhóm: nhóm catechin tự do gồm C, GC, EC, EGC (vị trí carbon số 3 có chứa nhóm thế hydroxyl) và nhóm đã bị ester hóa hay nhóm galloylcatechin: ECG, EGCG (nhóm hydroxyl ở vị trí carbon số 3 được thay bằng một nhóm gallate). 8 Các catechin đều dễ tan trong nước nóng, rượu, acetone, ethyl acetate tạo dung dịch không màu, không tan trong các dung môi không phân cực hoặc ít phân cực như benzene hoặc chloroform. Bằng phương pháp sắc ký trên cột và trên giấy, từ chế phẩm tannin trà, Curxanov đã tách được 8 catechin chiếm 98,3% tổng lượng tannin của búp trà.
Thành phần hoá học của tannin từ búp trà Tên Hàm lượng (% chế phẩm) Catechin (C) 0,4 Epicatechin (EC) 1,3 Gallocatechin (GC) 2,0 Epigallocatechin (EGC) 12,0 Epicatechin gallate (ECG) 18,1 Epigallocatechin gallate (EGCG) 58,1 Gallocatechin gallate (GCG) 1,4 Acid gallic và sắc tố - 5,0 (Khotrolava, 1985) Các "epi" có cấu trúc giống như các catechin, nhưng khác nhau về sự định hướng trong không gian, dẫn đến tính chất hóa học sẽ khác nhau. 9 (+) – Catechin C15H14O6, (-) – Epicatechin C15H14O6 (- )- Epicatechin gallate, C22H14O10 (+) - Gallocatechin, C15H14O7 (-) – Epigallocatechin, C15H14O7 (-) - Epigallocatechin gallate, C22H18O11 Hình 1. Công thức cấu tạo của các hợp chất catechin chính trong trà (Wright, 2005). Tác dụng dược lý của polyphenol Polyphenol là một nhóm chức tự nhiên quan trọng, có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như là chất vận chuyển điện tử trong quá trình hô hấp, là chất điều khiển, chất đặc trưng cho trà về màu sắc, mùi vị.
Polyphenol đóng vai trò như những kháng thể chống lại tác nhân gây bệnh. Nhiều polyphenol có hoạt tính của vitamin P (catechin trong trà) có tác dụng làm bền thành mạch, hạn chế hiện tượng chảy máu dưới da. Polyphenol còn là chất chống oxy hóa, chúng tiếp nhận gốc tự do sinh ra trong quá trình bệnh lý, kìm hãm sự phát triển của các khối u, chống phóng xạ và một số bệnh ung thư. Các gốc tự do dư thừa là nguồn gốc phát sinh các bệnh nguy hiểm nên các nghiên cứu đều hướng tới việc khảo sát khả năng kháng oxy hóa, quét gốc tự do trong quá trình tìm kiếm các hợp chất trong thiên nhiên có khả năng ngăn chặn hoặc chữa bệnh.
Vai trò của EGCG trong trà chống lại hoạt động oxy hóa gây tổn thương chuỗi DNA, nghĩa là chống lại những đột biến gen và ức chế sự phát triển các bướu do gốc tự do gây ra (Dương Thanh Liêm và ctv, 2010). Giới thiệu về trà oolong Trà oolong có nguồn gốc từ vùng núi Long Tĩnh thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, sau đó được du nhập và phát triển cực thịnh ở Đài Loan rồi trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới. Giống trà cao cấp này chỉ phù hợp với vùng cao nguyên có khí hậu ôn đới và đòi hỏi một quy trình công nghệ sạch từ khâu chăm sóc đến chế biến. Oolong thuộc loại trà lên men một nửa.
Trà oolong trước kia vốn chỉ sản xuất ở Trung Quốc tại ba tỉnh Phúc Kiến, Đài Loan, Quảng Đông. Phân thành 4 loại: trà núi đá Vũ Di (Bắc Phúc Kiến), trà Thiết quan âm An Khê (Nam Phúc Kiến), trà oolong Đài Loan và Pao Chủng (Đỗ Ngọc Quỹ, 2003). 11 Sau 1986 vào thời kỳ kinh tế mở cửa ở Việt Nam, nhiều Công ty trà Đài Loan như Kinh Lộ, Vĩnh Húc, Hai Yin…đã vào miền Nam và miền Bắc để sản xuất trà oolong tại Lâm Đồng, Hà Tây và Mộc Châu … Một số công ty trà của Việt Nam như Cầu tre, Tâm Châu ở Lâm Đồng, Thái Bình ở Lạng sơn… cũng đều sản xuất trà oolong. Trà được trồng trên đất có lẫn chút ít đá là tốt nhất, đất đá sạn thứ 2, đất sét vàng cho trà thuộc loại hạ phẩm.