PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về việc tổ chức dạy học môn Lý thuyết dinh dƣỡng thông qua việc ứng dụng phần mềm Vietnam Eiyokun tại trƣờng CĐSP Nha Trang. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn trong tổ chức hoạt động DH môn Lý thuyết dinh dƣỡng. Chƣơng 3: Quy trình tổ chức dạy học môn Lý thuyết dinh dƣỡng có ứng dụng phần mềm Vietnam Eiyokun. PHẦN KẾT LUẬN Cuối luận văn có danh mục tham khảo và phụ lục.
HVTH: NGÔ THỊ HỒNG CẨM 4 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HĐDH MÔN LÝ THUYẾT DINH DƢỠNG THÔNG QUA VIỆC ỨNG DỤNG PHẦN MỀM VIETNAM EIYOKUN Ở TRƢỜNG CĐSP NHA TRANG 1. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC 1. Trên thế giới CNTT là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay. Việc nghiên cứu, ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo đã đƣợc đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, đáng kể nhất là: Đề án “Tin học cho mọi ngƣời” (Informatique pour tous) - Pháp, 1970; Chƣơng trình MEP “Chƣơng trình giáo dục vi điện tử” (Microelectronics Education Program) - Anh, 1980; Các chƣơng trình và phần mềm các môn học cho trƣờng trung học đƣợc cung cấp bởi NSCU (National Software-Cadination Unit) - Australia, 1984; Đề án CLASS “Máy tính và các nghiên cứu ở trƣờng học” (Computer literacy and studies in school) - Ấn Độ, 1985; Hội thảo về “Xây dựng phần mềm tin học”, các nƣớc châu Á - Thái Bình Dƣơng, tổ chức tại Malaysia, 1985.
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu, một số tài liệu tiêu biểu nhƣ “Công nghệ dạy học” (Instructional Technology for Teaching and Learning) xây dựng kế hoạch tiến hành các hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của phƣơng tiện kỹ thuật theo hƣớng phát huy vai trò tích cực của ngƣời học; đề xuất các biện pháp sử dụng phƣơng tiện kỹ thuật phù hợp với những yêu cầu và hình thức dạy học cụ thể; đồng thời, nhấn mạnh vai trò của phƣơng tiện kỹ thuật nói chung, đặc biệt là CNTT nhƣ một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động dạy học. Cuốn “Dạy học với công nghệ: Tạo lớp học-ngƣời học làm trung tâm” (Teaching with Technology: Creating Student-Centered-Classrooms) của Judith H. Jonassen và các cộng sự tập trung trình bày những tác động tích cực của công nghệ máy tính đối với cách học của ngƣời học. Các tác giả đã làm rõ vai trò to lớn của các phƣơng tiện đa truyền thông đối với việc kích thích một cách tích cực các giác quan của SV, giúp mỗi ngƣời học có thể phát huy tốt năng lực, sở thích, năng khiếu riêng để tự khám phá và tìm kiếm tri thức,… Những định hƣớng nghiên cứu và yêu cầu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã đƣợc đề cập cụ thể hơn trong một số tài liệu đƣợc đánh giá cao, nhƣ các cuốn: "Dạy học hiệu quả với công nghệ thông tin và thực hành” (Effective teaching with internet technology pedagogy and practice) của Alan M.Pritchard (2007); “Danh sách 101 cần thiết cho việc sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học" (101 Essential List for Using ICT in the Classroom) của George Cole (2006); “Sử dụng công nghệ trong dạy học” (Using technology in teaching) của William Clyde and Andrew Delohery (2005); “Dạy và học với môi trƣờng học tập ảo” (Learning and teaching with virtual learning environments) của Helena Gillespie, Helen Boulton (2007) và nhiều công trình nghiên cứu về Xu hƣớng ứng dụng CNTT trong dạy - học của S.Leinonen, Maria Ranieri, Gerry White Các tác giả đã đề xuất những ý tƣởng, quan điểm khi nghiên cứu các ứng dụng CNTT vào dạy học, đồng thời chỉ ra những điểm có lợi và bất lợi, nên và không nên khi sử dụng CNTT cùng một số dẫn chứng vào dạy học một số môn cụ thể, chủ yếu là các bộ môn khoa học tự nhiên, trong những điều kiện dạy học khá lý tƣởng.
Các tác giả nghiên cứu đã quan tâm đến việc khai thác các thông tin đa phƣơng tiện (Multimedia) từ các CD-Rom, các trang Web trên Internet nhằm giúp cho SV những cơ hội, điều kiện tiếp cận tri thức tốt hơn và tạo ra những khả năng trao đổi thông tin, nghiên cứu, học tập vừa tiện ích, vừa tích cực giữa GV - SV và SV-SV, nhƣ các CD tra cứu trong môn địa lý: “PC Fact”, “The world Atlas”, “Encarta Reference Library”…. Thông tin trong các CD-Rom này đƣợc thể hiện bằng kênh chữ và kênh hình rất đa dạng, phong phú. Nội dung thông tin đƣợc sắp xếp, trình bày khá khoa học, chủ yếu phản ánh về văn hóa, lịch sử, địa danh, thông tin kinh tế, bản đồ các nƣớc trên thế giới. Chúng ta có thể sử dụng có chọn lọc các tài liệu này vào dạy học.
Ở các nƣớc phát triển, cùng với những phần mềm dạy học chuyên ngành, các phần mềm công cụ cũng đƣợc GV và SV quan tâm sử dụng, HVTH: NGÔ THỊ HỒNG CẨM 6 trong đó có phần mềm Ms PowerPoint. Cùng với sự xuất hiện các phiên bản của phần mềm Ms PowerPoint là các tài liệu hƣớng dẫn sử dụng (tiếng Anh) nhƣ cuốn Microsoft PowerPoint 97, 2000, XP,… “Tƣơng tác máy tính với Microsoft PowerPoint 2002" (Interactive Computing Series Microsoft PowerPoint 2002) của Kenneth C. Laudon, Kenneth Rosenblatt, David Langley (2003), … 1. Tại Việt Nam Những tài liệu, công trình nghiên cứu trong nƣớc: Ở nƣớc ta, vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, CNTT đã đƣợc đƣa vào trƣờng học thử nghiệm với tƣ cách là một môn học – môn Tin học và từ những năm cuối của thập niên này, CNTT mới đƣợc quan tâm ứng dụng vào dạy học các bộ môn khác, nhất là sau khi có các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nƣớc và Bộ GD-ĐT về vấn đề này.
Nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ngày một phong phú hơn. Tiêu biểu là các bài: “Một số điểm về cơ sở lý luận dạy học của việc sử dụng máy tính điện tử” của Nguyễn Quang Lạc, Lê Công Triêm, 1992; “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí giáo dục” của Trần Kiều, Nguyễn Thanh Lƣơng, 1994; “Công nghệ thông tin với việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trƣờng” của Phan Trọng Luận, 1998; "Sử dụng công nghệ thông tin trong đào tạo giáo viên có chất lƣợng và hiệu quả tại các trƣờng đại học sƣ phạm ở Việt Nam” (Using ICT effectively in training quality teachers in the teacher training universities in Viet Nam), Đặng Văn Đức, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế UNESCO châu Á – Thái Bình Dƣơng, 2001; “Sự hỗ trợ của máy vi tính với hệ thống multimedia trong dạy học” của Lê Công Triêm, 2002; “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trƣờng Việt Nam” của Lƣu Lâm, 2002; “Công nghệ thông tin và truyền thông với giáo dục - đào tạo ở Việt Nam” của Lê Hồng Sơn, 2002; “Xu thế nghiên cứu thiết kế và sử dụng thiết bị dạy học mới có ứng dụng công nghệ thông tin của Nguyễn Thị Kim Thành, Ngô Quang Sơn, 2003; “Ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực”, Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn, NXB Giáo dục, 2008,…Các tài liệu, bài viết trên đều khẳng định xu thế tất yếu của việc ứng dụng CNTT trong nền giáo dục hiện đại, đồng thời còn nêu những vấn đề có tính định hƣớng chung về những nguyên tắc, yêu cầu, quy trình; những mặt tích cực, hạn chế…, trong việc sử dụng phƣơng tiện, thiết bị dạy học này. HVTH: NGÔ THỊ HỒNG CẨM 7 Vẫn còn ít bài viết trình bày rõ về những khó khăn cũng nhƣ các giải pháp khả thi đối với việc triển khai các ứng dụng CNTT vào dạy học dinh dƣỡng. Để đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nƣớc, góp phần đổi mới, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục, các nhà phƣơng pháp dạy học dinh dƣỡng trong nƣớc đã tổ chức nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu việc ứng dụng CNTT trong DH dinh dƣỡng.
Nhiều công trình nghiên cứu giáo dục đã quan tâm đến việc sử dụng phần mềm tin học - nhƣ một phƣơng tiện dạy học các bộ môn ở trƣờng phổ thông. Trong số này, có thể kể đến các tài liệu, bài viết, nhƣ: vào năm 2012, Nestlé Việt Nam đã phối hợp Viện Dinh Dƣỡng Quốc gia thực hiện chƣơng trình “Giáo dục dinh dƣỡng học đƣờng - Nestlé Healthy Kids”. Chƣơng trình này đƣợc thiết kế dựa trên nền tảng nắm bắt tâm lý của ngƣời học, biến những giờ học lý thuyết khô khan thành những giờ học đầy vui nhộn, thú vị, giúp ngƣời học tiếp thu các kiến thức nền tảng về dinh dƣỡng một cách hào hứng. Phần mềm giáo dục dinh dƣỡng trên website http://ddhd.vn/ đã trở thành một cách tiếp cận đầy hiệu quả, giúp ngƣời học hiểu rõ và sâu hơn nhiều kiến thức quan trọng, phù hợp theo độ tuổi.
Ngoài ra, chƣơng trình còn trang bị cho trƣờng các phòng máy tính để tạo điều kiện giúp ngƣời học nâng cao kỹ năng, biết cách tiếp cận với các kiến thức dinh dƣỡng qua công cụ hiện đại. Nhờ những cách thức thực hiện sinh động, áp dụng các phƣơng pháp giảng dạy, công cụ hấp dẫn nên chƣơng trình “Giáo dục dinh dƣỡng học đƣờng - Nestlé Healthy Kids” đã và đang thu hút đƣợc hơn 10.000 học sinh tại 13 trƣờng tiểu học các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dƣơng, Ninh Bình, Cần Thơ. Khi ngƣời học cảm thấy thích thú với những giờ học dinh dƣỡng, đồng nghĩa với việc các em sẽ dễ dàng tiếp thu và nhớ lâu hơn về những kiến thức mình đƣợc dạy. Và chính những kiến thức đƣợc trang bị này sẽ giúp các em có thể tự điều chỉnh việc ăn uống, chăm sóc tốt hơn cho chính bản thân mình và gián tiếp “tác động” tới các bậc phụ huynh.
Song song với đó, việc thƣờng xuyên thực hành, tƣơng tác bài học trên phần mềm cũng giúp các em đƣợc trang bị thêm những kĩ năng về vi tính, một trong những kỹ năng rất quan trọng. Các bài viết đã khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT trong dạy học dinh dƣỡng trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp nội dung, chức năng và đặc trƣng bộ môn. Tuy nhiên, vẫn chƣa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các HVTH: NGÔ THỊ HỒNG CẨM 8 ứng dụng CNTT trong dạy học dinh dƣỡng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và điều kiện dạy học ở trƣờng sƣ phạm hiện nay. Công nghệ thông tin hiện nay ngày càng thâm nhập vào nhiều lĩnh vực đời sống văn hóa, xã hội trong đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo.