Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Nhuệ - Đáy giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Hồng, bao phủ diện tích tự nhiên 7.388 km2 với mạng lưới sông ngòi trải dài qua 5 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hòa Bình. Với quy mô dân số năm 2013 đạt 11.306,3 nghìn người cùng mật độ dân số trung bình 956,2 người/km2, lưu vực đang phải đối mặt với áp lực gia tăng ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Nguồn nước hàng năm của lưu vực đạt khoảng 28,8 tỷ m3 nhưng chất lượng nước mặt bị suy thoái mạnh mẽ do tiếp nhận hơn 1.942 nguồn thải lỏng chưa qua xử lý đạt chuẩn, trong đó có 1.639 cơ sở sản xuất công nghiệp, 143 làng nghề và 132 cơ sở y tế.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là ứng dụng hệ thống công cụ mô hình hóa BASINS (Better Assessment Science Integrating Point and Nonpoint Sources) phiên bản 4.1 nhằm mô phỏng biến động lưu lượng dòng chảy và tải lượng các chất ô nhiễm chính như oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy sinh học (BOD5), amoni (NH4+) và photphat (PO4 3-). Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung trên toàn bộ trục chính hệ thống sông Nhuệ và sông Đáy thuộc địa bàn Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình trong giai đoạn dữ liệu từ năm 2008 đến 2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch phân bổ tải lượng ô nhiễm, hỗ trợ các nhà quản lý nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng nước lưu vực sông liên tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống mô hình môi trường đa mục tiêu BASINS do Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA) phát triển, tích hợp trên nền tảng hệ thống thông tin địa lý mã nguồn mở MapWindowGIS. Khung mô hình vận hành dựa trên sự kết hợp giữa mô-đun thủy văn HSPF (Hydrological Simulation Program - FORTRAN) và công cụ đánh giá thực hành quản lý tốt nhất BMP (Best Management Practice). Mô hình SWMM cũng được tham chiếu để mô tả dòng chảy tràn đô thị, trong khi SWAT hỗ trợ nhận diện các quá trình xói mòn và lan truyền dinh dưỡng từ đất nông nghiệp.

Về mặt lý thuyết, cơ chế dòng chảy lưu vực được xác định thông qua phương trình cân bằng nước tổng quát: R = P - ET - IG - delta S (trong đó R là tổng dòng chảy mặt, P là lượng mưa, ET là lượng bốc thoát hơi nước, IG là lượng thấm vào tầng ngậm nước ngầm và delta S là độ biến thiên lượng trữ). Động học chất lượng nước trong lòng dẫn được mô phỏng dựa trên các phương trình truyền dẫn - phân hủy vi phân bậc nhất biểu diễn sự tương tác phức tạp giữa quá trình tái tạo oxy khí quyển, nhu cầu oxy của trầm tích đáy, quá trình nitrat hóa oxy hóa hợp chất amoni và chu trình chuyển hóa photpho vô cơ hòa tan.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp mô hình toán kết hợp GIS được lựa chọn làm công cụ cốt lõi nhờ khả năng tích hợp linh hoạt dữ liệu không gian và phân tích đồng thời cả nguồn thải điểm tập trung lẫn nguồn diện phân tán trên phạm vi diện tích rộng lớn 7.388 km2. Cỡ mẫu dữ liệu địa lý bao gồm mô hình độ cao số hóa DEM và bản đồ phân loại thảm phủ đất vệ tinh USGS độ phân giải 500m, được bóc tách thành 16 loại hình sử dụng đất khác nhau (trong đó đất trồng trọt chiếm 57,25% với 4.204,82 km2 và đất đô thị chiếm 4,09% với 300,05 km2).

Nguồn dữ liệu chuỗi thời gian khí tượng được thu thập đầy đủ theo bước thời gian ngày tại 2 trạm khí tượng đại diện là trạm Láng và trạm Phủ Lý cho hai mốc năm 2008 và 2012. Số liệu thủy văn lưu lượng thực đo tại trạm Lâm Sơn trên sông Bùi được sử dụng làm căn cứ hiệu chỉnh và kiểm nghiệm các thông số dòng chảy. Dữ liệu chất lượng nước mặt được thu thập thông qua phương pháp lấy mẫu hiện trường và kế thừa kết quả quan trắc định kỳ năm 2014 của Tổng cục Môi trường với cỡ mẫu 10 trạm đo trên sông Nhuệ và 19 trạm đo trên sông Đáy qua 4 đợt khảo sát, đảm bảo tính đại diện cao cho cả mùa kiệt lẫn mùa lũ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình HSPF trong hệ thống BASINS tại trạm thủy văn Lâm Sơn cho thấy mức độ tương thích rất cao giữa đường quá trình lưu lượng tính toán và lưu lượng thực tế đo đạc trong cả hai chuỗi số liệu năm 2008 và năm 2012, với hệ số tương quan đạt trên 0,85. Điều này khẳng định bộ thông số dòng chảy của mô hình hoàn toàn tin cậy để phục vụ bài toán mô phỏng tải lượng ô nhiễm.

Kết quả đánh giá hiện trạng cho thấy môi trường nước mặt sông Nhuệ bị ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng nghiêm trọng. 10 trên 10 trạm quan trắc dọc sông Nhuệ có nồng độ amoni (NH4+-N) vượt ngưỡng quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột B1 nhiều lần, với điểm nóng ô nhiễm cao nhất ghi nhận tại trạm Phúc La và Cầu Tó. Đối với sông Đáy, hiện tượng ô nhiễm mang tính cục bộ rõ rệt: 18 trên 19 điểm quan trắc đạt chuẩn BOD5 loại B1 (ngoại trừ trạm Cầu Mai Lĩnh), nhưng có đến 14 trên 19 vị trí quan trắc có hàm lượng NH4+-N vượt quy chuẩn loại A2.

Kết quả mô phỏng theo 3 kịch bản quản lý cho thấy: Kịch bản 1 phản ánh đúng hiện trạng suy giảm chất lượng nước nghiêm trọng vào mùa cạn; Kịch bản 2 (áp dụng dải lọc sinh học BMP trên đất nông nghiệp) giúp cắt giảm từ 15% đến 25% tải lượng đạm và lân phân tán; Kịch bản 3 (kiểm soát điểm thải tập trung tại 3 tiểu lưu vực trọng điểm 2, 11 và 13) mang lại hiệu quả vượt trội khi nâng hàm lượng oxy hòa tan DO từ dưới 2,0 mg/L lên trên 4,5 mg/L, đồng thời giảm nồng độ BOD5 và NH4+ từ 30% đến 45%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng suy thoái chất lượng nước sông Nhuệ là do tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải sinh hoạt khổng lồ từ nội thành Hà Nội qua sông Tô Lịch và đập Thanh Liệt với lưu lượng xả trung bình từ 11 đến 17 m3/s, cực đại lên tới 30 m3/s. Mỗi ngày, thành phố Hà Nội thải vào lưu vực khoảng 370.000 m3 nước thải sinh hoạt. Ngoài ra, trên toàn lưu vực có 1.639 cơ sở công nghiệp xả thải ước tính 549.000 m3/ngày và 143 làng nghề với hơn 100 ngàn hộ sản xuất xả thải khoảng 203.000 m3/ngày mà 100% chưa qua hệ thống xử lý tập trung.

Diễn biến chất lượng nước được minh chứng rõ qua các biểu đồ phân tích tương quan và biểu đồ đường quá trình diễn toán nồng độ các chất ô nhiễm dọc theo chiều dài dòng chảy. Bảng ma trận so sánh giữa các kịch bản cho thấy sự kết hợp giữa giải pháp phi công trình (quản lý dải lọc nông nghiệp) và công trình (trạm xử lý nước thải đô thị) là chìa khóa then chốt để khôi phục hệ sinh thái thủy vực sông Nhuệ - Đáy đạt mục tiêu bảo vệ nguồn nước theo quy định hiện hành.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và vận hành thương mại hệ sinh thái 24 nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các đô thị thuộc lưu vực, ưu tiên vận hành trạm xử lý nước thải Yên Xá công suất 270.000 m3/ngày đêm, trạm Phú Đô công suất 84.000 m3/ngày đêm và Phú Diễn công suất 58.000 m3/ngày đêm nhằm giảm tối thiểu 70% tải lượng hữu cơ đô thị trước năm 2020. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp với Sở Xây dựng.

  2. Triển khai mô hình dải đệm thực vật lọc sinh học BMP trên diện tích 4.204,82 km2 đất sản xuất nông nghiệp và vùng trồng cây xen kẽ ven bờ sông Nhuệ, sông Đáy, hướng tới mục tiêu giữ lại từ 20% đến 30% dư lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trước khi chảy vào lòng dẫn trong giai đoạn 2016 - 2022. Trách nhiệm triển khai thuộc về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

  3. Rà soát, thanh tra và bắt buộc 1.639 cơ sở công nghiệp cùng 143 làng nghề trên toàn lưu vực đầu tư hệ thống xử lý nước thải cục bộ đạt chuẩn kỹ thuật môi trường, kiên quyết đình chỉ hoạt động các cơ sở không có hệ thống xử lý đạt chuẩn nhằm cắt giảm 549.000 m3 nước thải công nghiệp chưa qua xử lý mỗi ngày. Giao Sở Tài nguyên và Môi trường 5 tỉnh thành chủ trì thực hiện từ năm 2016.

  4. Nâng cấp hệ thống quan trắc tự động liên tục chất lượng nước mặt tại các điểm phân lưu, hợp lưu trọng yếu và tăng cường điều tiết lưu lượng dòng chảy bổ cập từ sông Hồng qua cống Liên Mạc đạt lưu lượng tối thiểu 250 m3/s trong mùa khô để thau rửa dòng chảy. Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban Quản lý Lưu vực sông Nhuệ - Đáy giữ vai trò điều phối chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà quản lý môi trường và cơ quan hoạch định chính sách tại Tổng cục Môi trường, Ủy ban nhân dân và Sở Tài nguyên và Môi trường 5 tỉnh trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy, sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo xây dựng đề án bảo vệ môi trường lưu vực và hạn ngạch xả nước thải.
  • Các kỹ sư môi trường, chuyên gia quy hoạch hạ tầng tài nguyên nước tại các viện nghiên cứu và công ty tư vấn, ứng dụng mô hình BASINS và WinHSPF để tính toán cân bằng nước và thiết kế mạng lưới trạm xử lý nước thải lưu vực.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Tài nguyên nước, Thủy văn học tại các trường đại học, khai thác khung phương pháp luận mô hình hóa kết hợp GIS cho các đề tài nghiên cứu tương tự.
  • Ban quản lý các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đại diện hiệp hội làng nghề, tham khảo số liệu đánh giá phát thải để xây dựng phương án giảm thiểu tác động môi trường và tuân thủ các quy chuẩn xả thải quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình BASINS có ưu điểm nổi bật gì so với các mô hình thủy văn truyền thống?
Mô hình BASINS tích hợp môi trường dữ liệu không gian GIS với các mô-đun thủy văn mạnh như HSPF, SWMM và SWAT, cho phép mô phỏng đồng thời nguồn điểm và nguồn diện trên lưu vực rộng 7.388 km2. Hệ thống giúp giảm thiểu thời gian tính toán và trích xuất kết quả trực quan dưới dạng bản đồ, biểu đồ phân tích chi tiết.

Tình trạng ô nhiễm trên sông Nhuệ nghiêm trọng nhất ở những thông số nào?
Kết quả quan trắc chỉ ra rằng thông số oxy hóa học COD, oxy sinh học BOD5 và cation amoni NH4+-N trên sông Nhuệ đều vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 nhiều lần. Đặc biệt, 10 trên 10 trạm quan trắc dọc tuyến sông đều ghi nhận nồng độ amoni vượt chuẩn cho phép, điển hình tại khu vực trạm Phúc La và Cầu Tó.

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước sông Đáy bắt nguồn từ đâu?
Nước sông Đáy bị ô nhiễm cục bộ chủ yếu do tiếp nhận nước thải sinh hoạt từ quận Hà Đông qua khu vực Cầu Mai Lĩnh, tiếp nhận nước từ sông Bùi tại Ba Thá và hợp lưu nước ô nhiễm từ sông Nhuệ tại Phủ Lý. Ngoài ra, dòng chảy sông Đáy bị suy giảm nghiêm trọng từ khi đập Đáy không mở thường xuyên.

Mô-đun BMP trong hệ thống BASINS mang lại lợi ích gì trong quản lý lưu vực?
Mô-đun BMP cho phép thiết lập và mô phỏng hiệu quả của các giải pháp phi công trình như dải đệm thực vật lọc dòng chảy tràn. Trên 4.204,82 km2 đất nông nghiệp của lưu vực, việc áp dụng BMP giúp làm chậm tốc độ dòng chảy bề mặt và hấp thụ từ 15% đến 25% lượng dinh dưỡng nitơ, photpho phát tán.

Tại sao việc vận hành trạm xử lý nước thải Yên Xá lại có ý nghĩa quyết định với sông Nhuệ?
Trạm xử lý Yên Xá có công suất thiết kế lên tới 270.000 m3/ngày đêm, chiếm phần lớn lượng nước thải sinh hoạt 370.000 m3/ngày xả ra từ Hà Nội. Việc đưa trạm vào vận hành sẽ ngăn chặn trực tiếp nguồn ô nhiễm hữu cơ chính đổ vào sông Tô Lịch và chuyển sang sông Nhuệ qua đập Thanh Liệt.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công bộ cơ sở dữ liệu không gian và thuộc tính đồng bộ cho toàn bộ lưu vực sông Nhuệ - Đáy trên hệ thống phần mềm BASINS 4.1.
  • Hiệu chỉnh và kiểm định thành công mô hình thủy văn HSPF với hệ số tương quan cao dựa trên dữ liệu khí tượng và lưu lượng thực đo tại trạm Lâm Sơn qua các năm 2008 và 2012.
  • Đánh giá định lượng hiện trạng ô nhiễm hữu cơ và amoni nghiêm trọng trên hệ thống sông, chỉ rõ 1.942 nguồn thải lỏng là nguyên nhân cốt lõi gây suy thoái chất lượng nước mặt.
  • Xây dựng và mô phỏng chính xác 3 kịch bản quản lý môi trường nước, chứng minh giải pháp kết hợp dải lọc BMP nông nghiệp và kiểm soát nguồn thải tập trung giúp nâng cao đáng kể nồng độ DO và giảm hơn 30% hàm lượng BOD5.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quy hoạch, kỹ thuật công trình và chính sách quản lý khả thi, đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị môi trường lưu vực sông liên tỉnh giai đoạn tiếp theo.