Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu trúc phân tử và các dạng hemoglobin trong cơ thể Phân tử hemoglobin (Hb) ở người là một phân tử protein được cấu tạo từ hai cặp chuỗi dimer polypeptide, α và β globin, tạo thành cấu trúc tetramere. Phân tử α2β2 là cấu trúc của phân tử Hb ở người trưởng thành. Chức năng chính của Hb là vận chuyển oxygen (O2) từ phổi đến các tổ chức, và vận chuyển carbon dioxide (CO2), carbon monoxide (CO), nirtric oxide (NO) theo chiều ngược lại.
Cấu trúc phân tử Hb gồm hai phần: phần globin và phần HEM [49].1: Cấu tạo phân tử hemoglobin (Nguồn: Pathophysiology, 2012 [37]) Phần hem là phần tạo nên màu đỏ của chất Hb, có cấu trúc chung cho nhiều loài. Phần này bao gồm một vòng protoporphyrin và một nguyên tử sắt hóa trị II (Hình 1. Nhân protoporphyrin gồm 4 vòng pyrol, gắn với nhau qua các cầu nối methan (-CH=) và một số mạch thẳng gồm methy (-CH3 =), vinyl (-CH = CH2) và propionate (-CH2-CH2-COOH). Nguyên tử sắt nằm ở 4 trung tâm, có hai mối liên kết chặt chẽ với hai nguyên tử nitơ và hai mối liên kết giả với hai nguyên tử nitơ khác, do quá tình chuyển và nhận điện tích.
Ở người những rối loạn bệnh lý trong phần hem ít xảy ra hơn hẳn so với những rối loạn bệnh lý trong phần globin [49]. Phần globin có bản chất là protein. Phần này đặc hiệu cho từng loài. Ở người, phần globin được cấu tạo bởi 4 chuỗi polypeptide giống nhau từng đôi một, gắn với nhau.
Mỗi chuỗi polypeptide gắn với một hem. Do đó, mỗi phân tử Hb có 2 cặp chuỗi polypeptide và 4 HEM, có khả năng vận chuyển 4 phân tử oxy [49]. Trong quá trình phát triển cá thể ở người, các loại chuỗi polypeptide có sự chuyển đổi, loại chuỗi này thay thế chuỗi kia ở từng giai đoạn của cuộc sống. Phân tích cấu trúc của các loại Hb khác nhau ở người, các tác giả chia chuỗi polypeptide thành các loại như sau: chuỗi alpha (α), chuỗi beta (β), chuỗi gamma (γ), chuỗi delta (δ), chuỗi epsilon (ε), chuỗi zeta (ζ) [38].
Mỗi phân tử Hb có 2 cặp chuỗi polypeptide ở phần globin. Các loại Hb khác nhau có các thành phần chuỗi polypeptide khác nhau. Trong hồng cầu của người bình thường trưởng thành, hemoglobin A (α2β2) chiếm khoảng 97% trong tổng số Hb của cơ thể, hemoglobin A2 (α2δ2) chiếm khoảng 2% và hemoglobin F (hemoglobin bào thai) (α2γ2) chiếm khoảng 1% [38]. Hai gen ζ và ε chỉ biểu hiện trong giai đoạn sớm của phôi, sau đó giảm dần và thay bằng sự biểu hiện của hai gen α và γ, hình thành nên hemoglobin Gower1 (ζ2ε2), Gower2 (α2ε2) và Porland (ζ2γ2).
Hai gen α và γ dần dần biểu hiện tạo thành HbF (α2γ2), là loại Hb chiếm ưu thế ở 3 tháng giữa của thai kỳ và có ái lực với oxy tăng nhẹ so với Hb ở người trưởng thành. Tại thời điểm sinh, gen α-globin đã đạt đến mức độ hoạt động đầy đủ, gen γ giảm hoạt động, nhóm gen β (δ và β) dần dần tăng hoạt động. Do đó ở người bình thường khi được 1 tuổi, loại hemoglobin chiếm ưu thế là HbA và HbA2. Tuy 5 nhiên trong một vài trường hợp, gen γ-globin vẫn tiếp tục được biểu hiện trong tế bào hồng cầu trưởng thành, gây hội chứng tồn dư huyết sắc tố bào thai có tính chất di truyền (HPFH) [38].
Khái niệm bệnh α-thalassemia Bệnh α-thalassemia là bệnh thiếu máu tan máu di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, do giảm hoặc mất hẳn sự tổng hợp của chuỗi α-globin trong phân tử Hb. Sự suy giảm tổng hợp này dẫn đến sự tăng tổng hợp quá mức của chuỗi β globin tạo phân tử γ4, gọi là Hb Bart’s (trong thời kỳ bào thai), và β4 gọi là HbH (trong thời kỳ trưởng thành) [39]. Dịch tễ học bệnh α-thalassemia Trong tất cả các bệnh về rối loạn gen globin, α-thalassemia là bệnh có sự phân bố rộng rãi nhất. Với sự kết hợp giữa các dạng alen đột biến khác nhau của α-thalassemia, cũng như giữa α-thalassemia và β-thalassemia, đã tạo ra nhiều kiểu hình phong phú của bệnh.
Bệnh α-thalassemia xuất hiện ở tất cả các chủng tộc trên thế giới, rất phổ biến ở Đông Nam Á. Hiện nay, có khoảng 5% dân số thế giới là người mang gen bệnh α-thalassemia, phân bố khác nhau ở từng quốc gia, chủng tộc [27]. Tại Trung Quốc, người mang gen α-thalassemia chiếm 5-15% dân số, Hồng Kông 4%, Thái Lan 15-30%, Lào 43%, Việt Nam 5% [6]. Cơ chế bệnh sinh của bệnh α-thalassemia Bệnh α-thalassemia có sự giảm hoặc thiếu hụt tổng hợp chuỗi α-globin và dư thừa chuỗi còn lại.
Mức độ thiếu hụt và dư thừa này khác nhau ở từng thể bệnh. Khác với chuỗi α, các chuỗi còn lại là γ, β, δ thay đổi từ chuỗi này thành chuỗi khác trong một số giai đoạn của cuộc sống. Ở thời kỳ bào thai, chủ yếu là chuỗi γ. Sau khi sinh, chuỗi γ giảm, thay thế dần bằng chuỗi β, δ.
Vì vậy, với bệnh α-thalassemia, trong thời kỳ bào 6 thai có sự dư thừa chuỗi γ tạo γ4 là Hb Bart’s. Trong giai đoạn trưởng thành, sự dư thừa chuỗi γ được chuyển thành sự dư thừa của chuỗi β tạo β4 là HbH. Hb Bart’s và HbH có khả năng vận chuyển oxy kém hơn so với HbA1. Hb Bart’s có ái lực cao với oxy, nhưng lại không có hiệu ứng Bohr, do sự tương tác giữa các chuỗi polypeptid γ làm cho khả năng chuyển nhượng điện tích với phần hem bị mất, khó khăn trong quá trình trao đổi oxy tổ chức.
Do đó, các thai nhi mắc bệnh Hb Bart’s thường tử vong ngay trong giai đoạn cuối của thai kỳ hoặc ngay sau sinh, khi nhu cầu về oxy của cơ thể tăng lên [43]. Trong khi đó, HbH chỉ chiếm khoảng 5-40% thành phần Hb nên bệnh nhi có thể sống đến tuổi trưởng thành nhưng HbH (β4) không bền vững. Các chuỗi β tạo hạt tủa khi bị các tác nhân gây oxy hoá tác động, gọi là hạt tủa muộn và có thể hoà tan lại được. Tuy nhiên, trong quá trình sống, các hạt tủa này luôn được tạo ra, gây giảm đời sống hồng cầu và biến đổi ở các cơ quan tạo hồng cầu trong tuỷ.
Toàn bộ cơ chế này tác động ở các mức độ khác nhau gây nên bệnh cảnh lâm sàng và huyết học khá đa dạng trong bệnh HbH. Đặc điểm lâm sàng, huyết học của các thể bệnh α-thalassemia Bệnh α-thalassemia được chia thành 4 thể khác nhau tùy theo số lượng gen α-globin bị đột biến với các biểu hiện lâm sàng rất phong phú và khác nhau ở mỗi thể bệnh [39]. Thể ẩn Bệnh nhân α-thalassemia thể ẩn có lâm sàng và huyết học bình thường, không có biểu hiện thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc trên xét nghiệm công thức máu [39]. Các đột biến phổ biến gây kiểu hình α+-thalassemia gồm 2 xóa đoạn -α3.2, đột biến không xóa đoạn Hb Constant Spring (-αHbCS).
Dị hợp tử α+-thalassemia hầu như không làm thay đổi các chỉ số hồng cầu cũng như hình thái hồng cầu hoặc chỉ làm hồng cầu nhỏ không đáng kể 7 với MCV và MCH giảm rất nhẹ; một số trường hợp phân tích thành phần Hb máu cuống rốn có 1-2% Hb Bart’s. Dị hợp tử HbCS có thể thiếu máu nhẹ, MCV giảm, hồng cầu có hạt kiềm có trên tiêu bản máu ngoại vi [39]. Thể nhẹ Bệnh nhân α-thalassemia thể nhẹ thường không có triệu chứng lâm sàng, chỉ được phát hiện qua xét nghiệm công thức máu biểu hiện thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc mức độ từ nhẹ đến trung bình. Tình trạng thiếu máu như xanh xao, mệt mỏi, thở nhanh, ngắn thường rất hiếm gặp hoặc nếu có thì thường liên quan đến các bệnh tật khác kèm theo [39].
Đồng hợp tử α+-thalassemia hoặc dị hợp tử α0-thalassemia, đặc trưng bởi thiếu máu rất nhẹ, giảm khoảng 1,0-1,5g/dL so với người bình thường; hồng cầu nhỏ, nhược sắc với MCV, MCH và MCHC thấp; số lượng hồng cầu tăng, biểu hiện rõ hơn trong α0-thalassemia so với kiểu gen α+-thalassemia, Hb Bart’s khoảng 5-10% lúc sinh [39]. Thể trung bình (bệnh HbH) Bệnh HbH thường gặp ở những bệnh nhân mang dị hợp tử kép của hai đột biến trên gen α-globin, trong đó có một đột biến mất đoạn hai gen và một đột biến mất đoạn một gen. Ở những bệnh nhân này, chuỗi α-globin chỉ được tổng hợp bằng khoảng 30% so với bình thường. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là tình trạng thiếu máu với lượng HbH thay đổi từ 0,8-40%, đôi khi còn có kèm theo Hb Bart’s ở một vài trường hợp [44].
Bệnh nhân thường có lách to, vàng da có thể xuất hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Trẻ mắc HbH có thể có biểu hiện chậm lớn. Ngoài ra, có thể có các dấu hiệu do biến chứng khác của bệnh như nhiễm trùng, các vết loét ở chi dưới, sỏi mật, suy giảm acid folic và có thể có các cơn tan máu cấp sau khi điều trị thuốc hoặc đợt nhiễm trùng nặng [44], [53]. 8 Trên tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, bệnh nhân HbH thường có thiếu máu, MCV và MCH giảm, nhưng số lượng hồng cầu tăng, hồng cầu lưới tăng.
Hồng cầu trên tiêu bản máu ngoại vi có kích thước nhỏ, nhược sắc, hồng cầu đa sắc với nhiều hình dạng, kích thước không đều, hồng cầu hình bia, hồng cầu có hạt kiềm, mảnh vỡ hồng cầu, có thể xuất hiện nguyên hồng cầu. Một đặc điểm quan trọng của bệnh lý HbH là sự hiện diện của thể vùi HbH trong hầu hết các tế bào hồng cầu khi nhuộm xanh sáng cresyl (BCB-Brilliant Cresyl Blue) [44]. Phân tích thành phần hemoglobin nhận thấy tỉ lệ Hb Bart’s lúc sinh khoảng 19-27%, giảm dần sau đó và thay thế bằng HbH, với tỉ lệ HbH thường thấp hơn [53]. Thể nặng (hội chứng phù thai do Hb Bart’s) Hội chứng phù thai do Hb Bart’s là thể nặng nhất của α-thalassemia, do mất hoàn toàn 4 gen α-globin, gây nên tình trạng suy giảm hoàn toàn khả năng sản xuất chuỗi α-globin.
Trẻ mắc HbBart’s có thành phần Hb trong hồng cầu chủ yếu là loại Hb không có chức năng γ4 và β4 [44], [53]. Tuy nhiên, vẫn còn một lượng Hb bào thai Porland (ζ2γ2) tồn tại, là loại Hb duy nhất có chức năng vận chuyển oxy để duy trì sự sống cho bào thai. Biểu hiện lâm sàng của trẻ mắc Hb Bart’s là da xanh xám, phù nề, suy tim và thiếu máu kéo dài từ giai đoạn thai trong tử cung (Hình 1. Thai nhi Hb Bart’s hầu hết tử vong trong bào thai vào tuần 23-38 thai kỳ; hoặc tử vong sớm sau sinh với thiếu máu rất nặng, gan lách to nhiều, phù toàn thân, tràn dịch đa màng, suy tim và phát triển bất thường, bao gồm não úng thủy, dị tật tim và cơ quan niệu sinh dục.