CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐA TÁC TỬ 1.1 Giới thiệu về hệ thống đa tác tử 1.1 Giới thiệu chung về tác tử Đến thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo vẫn chưa thống nhất được một định nghĩa cho khái niệm “Tác tử” (Agent). Lý do đầu tiên và quan trọng nhất cho điều này là do tính phổ biến của từ “Agent” khiến cho nó không thể được sở hữu bởi bất cứ một lĩnh vực cụ thể nào. Thứ hai, các tác tử có thể hiện diện ở nhiều dạng vật chất khác nhau, từ rô bốt đến mạng máy tính. Thứ ba, ứng dụng của tác tử rất đa dạng và không thể khái quát được.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thuật ngữ như “softbots” (tác tử phần mềm), “knowbots” (tác tử tri thức), “taskbots” (tác tử dựa trên nhiệm vụ) dựa trên môi trường ứng dụng nơi các tác tử được sử dụng [1]. Định nghĩa về tác tử đạt được sự đồng thuận lớn nhất là của Russell và Norvig. Họ định nghĩa tác tử là một thực thể tự trị linh hoạt có khả năng nhận thức môi trường thông qua các cảm biến được kết nối với nó. Các hoạt động này tác động lên môi trường thông qua các bộ truyền động.
Định nghĩa này không bao gồm toàn bộ phạm vi các đặc điểm mà tác tử phải có. Một hình ảnh thường được sử dụng để minh hoạ tác tử bằng định nghĩa của Russell và Norvig [2] , được chỉ ra trong Hình 1.1 Mô hình tác tử trí tuệ nhân tạo được đề xuất bởi Russell và Norvig vào năm 1995 .1 Mô hình tác tử trí tuệ nhân tạo được đề xuất bởi Russell và Norvig vào năm 1995 [2]. Để phân biệt tác tử với các định nghĩa khác tương tự với nó (ví dụ như hệ thống chuyên gia – expert systems và bộ điều khiển phân tán – distributed controllers), một số đặc 3 điểm quan trọng dưới đây sẽ thể hiện rõ ràng hơn sự khác biệt giữa tác tử và các hệ thống này. - Tình trạng (situatedness): Điều này đề cập đến sự tương tác của một tác tử với môi trường thông qua việc sử dụng các cảm biến và kết quả của việc chấp hành các hành động một cách có tổ chức.
Môi trường mà tác tử có mặt là một phần không thể thiếu trong thiết kế của nó. Tất cả các yếu tố đầu vào đều được nhận trực tiếp do các tác tử tương tác với môi trường của chúng. Tác tử trực tiếp tác động lên môi trường thông qua các bộ truyền động và không chỉ đóng vai trò là cố vấn cấp cao. Thuộc tính này giúp phân biệt nó với các hệ thống chuyên gia – một hệ thống mà các nút quyết định hoặc thực thể đề xuất các thay đổi thông qua tác tác tử trung gian và không ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường.
- Quyền tự chủ (autonomy): Đây là đặc trưng quan trọng nhất của tác tử. Tính tự chủ có thể được định nghĩa là khả năng của một tác tử lựa chọn hành động của mình một cách độc lập mà không có sự can thiệp từ bên ngoài của các tác tử khác trong mạng đối với trường hợp hệ thống đa tác tử hoặc sự can thiệp của con người. Tính tự chủ biểu hiện ở chỗ mỗi tác tử đều có tính tự chủ bên trong và tính tự chủ về hành động. Tính tự chủ bên trong có nghĩa là mỗi tác tử đều có một trạng thái độc lập, tách biệt với các tác tử khác, các tác tử khác không thể can thiệp hay truy nhập vào trạng thái này.
Tính tự chủ bên ngoài thể hiện ở chỗ mỗi tác tử này đều có thể tự quyết định các hành động của chính nó, các hành động này có thể là hành động đơn lẻ hoặc một chuỗi các hành động dựa trên trạng thái hiện thời của tác tử này mà không có sự can thiệp của yếu tố môi trường bên ngoài hay các tác tử khác. - Khả năng suy diễn (inferential capability): Khả năng của một tác tử làm việc trên các đặc tả của các đối tượng trong môi trường như suy luận một đối tượng bằng cách tổng quát hóa thông tin. Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các nội dung liên quan của thông tin sẵn có. - Khả năng đáp ứng (responsiveness): Đặc tính này cực kỳ quan trọng đối với các ứng dụng thời gian thực.
Tính phản ứng có thể được hiểu là khả năng tác tử có thể nhận biết được môi trường xung quanh hay các tác tử thông qua bộ phận cảm cảm biến. Sau đó tác tử dựa trên nhận biết đó để đáp ứng kịp thời những thay đổi xảy ra trong môi trường mà nó đang hoạt động. Tính phản ứng được thể hiện rõ nhất ở các tác tử 4 hoạt động trên các môi trường có tính mở và hay thay đổi như Internet, môi trường mạng phân tán hay môi trường vật lý. Phản ứng của mỗi một tác tử khi có sự thay đổi từ môi trường đối với môi trường mà nó đang hoạt động đều nhằm mục đích thực hiện mục tiêu của tác tử đó.
- Tính chủ động (pro-activeness): Khi môi trường có sự thay đổi, một chuỗi hành động sẽ được xác định cần thực hiện bởi tác tử trong môi trường đó chứ không chỉ phản ứng lại những thay đổi này một cách đơn giản. Mỗi tác tử sẽ tự chủ động trong việc khởi động và thực hiện chuỗi hành động phản ứng này. Điều này nhằm tăng cường các hành động hướng tới mục tiêu thay vì chỉ phản ứng với một sự thay đổi cụ thể trong môi trường. Tác tử phải có khả năng thích ứng với bất kỳ thay đổi nào trong môi trường năng động.
- Hành vi xã hội (social behaviour): Mặc dù quyết định của tác tử phải không có sự can thiệp từ bên ngoài, nó vẫn phải có khả năng tương tác với các nguồn bên ngoài khi phát sinh nhu cầu để đạt được một mục tiêu cụ thể. Nó cũng phải có khả năng chia sẻ kiến thức này và giúp các tác tử khác giải quyết một vấn đề cụ thể (trường hợp hệ thống đa tác tử). Mỗi tác tử phải có khả năng học hỏi kinh nghiệm của các thực thể giao tiếp khác có thể là con người, các tác tử khác trong mạng hoặc bộ điều khiển thống kê. Các tác tử ngoài việc hướng tới mục tiêu của riêng mình thì còn có khả năng tương tác với các tác tử khác, các hoạt động tương tác này rất đa dạng bao gồm cạnh tranh, phối hợp, thương lượng… Sự tương tác giữa các tác tử để hướng tới mục tiêu chung của hệ thống.2 Các khối xây dựng điển hình của một tác tử tự trị.
5 Một số thuộc tính khác được liên kết với các tác tử bao gồm tính di động, tính liên tục theo thời gian, hành vi cộng tác. Dựa trên việc liệu một thực thể máy tính có thể đáp ứng tất cả hoặc một vài thuộc tính trên, các tác tử có thể được chỉ định thêm là tác tử yếu hoặc mạnh. Tuy nhiên, rất khó để xác định đặc tính của các tác tử chỉ dựa trên những đặc tính này. Nó cũng phải dựa trên sự phức tạp liên quan đến thiết kế, chức năng sẽ được thực hiện và tính hợp lý được thể hiện.2 Khái niệm về hệ đa tác tử Hệ thống đa tác tử (MAS) là một phần mở rộng của công nghệ tác tử trong đó một nhóm các tác tử tự trị được kết nối linh hoạt hành động trong một môi trường để đạt được mục tiêu chung.
Điều này được thực hiện bằng cách hợp tác hoặc cạnh tranh, chia sẻ hoặc không chia sẻ kiến thức với nhau. Hệ thống đa tác tử đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực ứng dụng với các bài toán thực tế nhờ những lợi ích thiết thực và to lớn nó đã thực hiện được. Trong các hệ thống lớn, khi sử dụng công nghệ MAS sẽ đem lại một số lợi ích: - Việc tính toán song song và hoạt động không đồng bộ sẽ giúp hệ thống tăng tốc độ và hiệu quả của các hoạt động. - Hệ thống sẽ bị xuống cấp khi một hoặc nhiều tác tử bị lỗi.
Do đó, nó làm tăng độ tin cậy và mạnh mẽ của hệ thống. - Khả năng mở rộng và tính linh hoạt có nghĩa là có thể thêm các tác tử khi cần thiết. - Các tác tử riêng lẻ có chi phí thấp hơn nhiều so với kiến trúc tập trung, điều này giúp giảm được chi phí. - Tác tử có cấu trúc mô-đun, điều này khiến cho chúng có thể dễ dàng thay thế khi được ghép vào trong các hệ thống khác và có thể nâng cấp hệ thống dễ dàng hơn hệ thống nguyên khối.
Từ đó, các tác tử này có khả năng tái sử dụng. Mặc dù hệ thống đa tác tử có các tính năng có lợi hơn hệ thống tác tử đơn lẻ, nhưng chúng cũng đưa ra một số hạn chế quan trọng được nhắc đến dưới đây. - Môi trường: Trong một hệ thống nhiều tác tử, mỗi tác tử phải dự đoán hành động của các tác tử khác để quyết định hành động tối ưu sẽ hướng tới mục tiêu. Nguyên 6 nhân là do hành động của một tác tử không chỉ điều chỉnh môi trường của chính nó mà còn của các tác tử lân cận.
Vấn đề trở nên phức tạp hơn nữa nếu môi trường biến đổi liên tục với kiểu học đồng thời vì kiểu học này có thể dẫn đến hành vi không ổn định và có thể gây ra hỗn loạn. Ngoài ra, mỗi tác tử cần phải phân biệt giữa các tác động gây ra do các biến thể trong chính môi trường và các hành động của tác tử khác. - Nhận thức: Trong một hệ thống nhiều tác tử phân tán, mỗi tác tử có khả năng cảm biến và các tác tử nằm rải rác khắp nơi trong môi trường nhưng phạm vi phủ sóng của các cảm biến được kết nối giữa các tác tử bị hạn chế. Điều này giới hạn hoạt động của từng tác tử trong môi trường.
Do đó, việc đạt được một giải pháp toàn cầu bằng cách này trở nên khó thực hiện và các quyết định dựa trên các quan sát từng phần được thực hiện bởi mỗi tác tử có thể là không tối ưu. - Tính trừu tượng: Trong hệ thống đa tác tử, giả định rằng toàn bộ không gian hành động của tác tử được tác tử đó nhận biết và việc ánh xạ không gian trạng thái sang không gian hành động có thể được thực hiện bằng kinh nghiệm. Trong hệ thống đa tác tử, mọi tác tử không trải qua tất cả các trạng thái.