Đặt vấn đề Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng mang tính toàn cầu. Ở nước ta, trước đây ô nhiễm môi trường chủ yếu xảy ra ở một số khu vực như đô thị đông dân cư, khai thác khoáng sản, khu vực chăn nuôi…. Nhưng hiện nay ô nhiễm xảy ra phổ biến ở mọi nơi và trên mọi môi trường đất, nước, không khí. Nước ta là nước nông nghiệp nên nguồn phế thải sau thu hoạch rất lớn, đa dạng, một số ngành công nghiệp cũng tạo ra một khối lượng rác hữu cơ rất lớn từ quá trình sản xuất.
Phế thải đang là một thảm họa khó lường trong sự phát triển mạnh mẽ của quá trình sản xuất, chế biến công nghiệp và hoạt động toàn xã hội. Phế thải không chỉ ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, gây độc hại đến sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, mà còn làm mất đi cảnh quan văn hóa đô thị và nông nghiệp nông thôn. Xã Sơn Thành – huyện Nho Quan – tỉnh Ninh Bình là một xã thuần nông với diện tích đất nông nghiệp khoảng 355,79 ha.Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên xã là trồng lúa cho 2 vụ/năm. Được sự hỗ trợ giống, phân bón, khoa học kỹ thuật.
của cơ quan cấp trên cùng với việc dồn điền đổi thửa dẫn đến năng suất ngày càng cao. Cùng với việc tăng năng suất thì lượng tàn dư rơm rạ trên đồng ruộng ngày càng tăng. Trước đây rơm rạ chủ yếu dùng làm chất đốt trong gia đình và là nguồn thức ăn cho trâu, bò. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế rơm rạ không còn làm chất đốt nữa thay vào đó là dùng gas, trấu, than là chất đốt.
Rơm rạ sau mỗi mùa vụ phần lớn thì đốt lấy tro, một phần thì vứt ngay trên đồng ruộng, một phần nhỏ thì làm chất đốt và làm thức ăn cho trâu, bò. Việc xử lý rơm rạ như vậy gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, làm đất đai thiếu chất dinh dưỡng cho cây trồng đồng nghĩa với n 2 việc đầu tư chi phí lớn cho việc mua phân bón hóa học để cung cấp cho đất lượng dinh dưỡng thiếu hụt. Vì vậy việc xử lý được lượng tàn dư thực vật này sẽ làm giảm ô nhiễm môi trường, giảm lượng phân bón hóa học, sâu bệnh hại tăng năng suất cây trồng. Với thực tế trên em quyết định chọn đề tài “ Nghiên cứu ứng dụng xử lý tàn dư rơm rạ trên đồng ruộng bằng một số loại chế phẩm sinh học tại xã Sơn Thành – huyện Nho Quan – tỉnh Ninh Bình”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Điều tra lượng tàn dư rơm rạ trên đồng ruộng từ hoạt động sản xuất nông nghiệp tại xã Sơn Thành. - Đánh giá hiệu quả xử lý tàn dư rơm rạ bằng một số loại chế phẩm sinh học. Yêu cầu của đề tài - Sử dụng phiếu để điều tra tàn dư rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp tại xã Sơn Thành.
- Tiến hành điều tra thực tế tàn dư rơm rạ trên đồng ruộng. - Tiến hành ủ rơm rạ bằng một số loại chế phẩm sinh học để đánh giá chất lượng trước và sau khi tiến hành nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài - Vận dụng những kiến thức đã học vào nghiên cứu. - Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng việc xử lý tàn dư rơm rạ trên đồng ruộng tại địa phương.
- Từ việc đánh giá hiện trạng việc xử lý tàn dư rơm rạ , đề xuất ứng dụng xử lý tàn dư rơm rạ trên đồng ruộng bằng một số chế phẩm sinh học tại địa phương. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý xử lý tàn dƣ rơm rạ bằng chế phẩm sinh học 2. Cơ sở khoa học xử lý tàn dư rơm rạ bằng chế phẩm sinh học Khoảng một nửa hợp chất cacbon trong sinh khối (biomass) trên mặt đất là xenluloza, chiếm tới 35% - 50% khối lượng khô sinh khối thực vật.
Tất cả sản phẩm sinh khối sẽ được khoáng hóa nhờ hệ thống enzyme được cung cấp bởi vi sinh vật. Hệ thống enzyme phân giải xenluloza thường chậm và không hoàn toàn. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ngắn (48h) hệ vi sinh vật trong dạ cỏ bò có thể phân giải 60% - 65% xenluloza. Hơn thế nữa, nhờ hệ thống vi sinh vật trong đường ruột mà loài mối có thể tiêu hóa đến 90% xenluloza của gỗ.
Còn trong hệ thống sinh học phức tạp như rễ cây hoặc những mảnh vỡ thực vật trong đất, xenluloza có thể được phân hủy trong khoảng thời gian lâu hơn. Hệ vi sinh vật phân giải xenluloza có thể lên men hiếu khí hoặc kỵ khí, bao gồm nấm, vi khuẩn và xạ khuẩn được tìm thấy nhiều trong đất, nước, đường tiêu hóa một số động vật.nơi cung cấp lượng xenluloza dồi dào để vi sinh vật phân giải và phát triển (Võ Văn Phước Quệ và Cao Ngọc Điệp, 2011) [8]. * Xenluloza Xenluloza là hợp chất cao phân tử được cấu tạo từ các liên kết các mắt xích β-D-Glucose, có công thức cấu tạo là (C6H10O5)n hay [C6H7O2(OH)3]n trong đó n có thể nằm trong khoảng 5000 – 14000, là thành hần chủ yếu cấu tạo nên vách tế bào thực vật.Trong gỗ lá kim, xenluloza chiếm khoảng 41- 49%, trong gỗ lá rộng nó chiếm 43-52% thể tích. Xenluloza là polysaccharide chủ yếu của thành tế bào thực vật.
Trong bông nó chiếm trên 90%, còn trong gỗ hơn 50%. Ngoài ra, người ta còn thấy n 4 chúng có nhiều ở tế bào một số loài VSV. Ở tế bào thực vật và ở tế bào một số loài VSV, chúng tồn tại ở dạng sợi. Khi đun sôi với axit sulfuric đặc, xenluloza sẽ chuyển thành glucose còn khi thủy phân trong điều kiện nhẹ nhàng sẽ tạo thành disacarit cellobiose.
Xenluloza không có trong tế bào động vật. Chúng là một homopolimer mạch thẳng, được cấu tạo bởi các b-D- glucose-pyranose. Các thành phần này liên kết với nhau bởi liên kết b-1,4 glucoside. Tinh bột cũng được cấu tạo bởi các glucose này và bằng liên kết a- 1,4 glucoside.
Điểm khác biệt là tinh bột chứa các gốc glucose phân nhánh còn xenluloza chứa các glucose không phân nhánh. Các gốc glucose trong xenluloza thường lệch một góc 1800 và có dạng như một chiếc ghế bành. Xenluloza thường chứa 10.000 gốc đường và được cấu tạo như sau: Hình 2.1: Cấu tạo phân tử xenluloza (Nguồn: Dư Ngọc Thành ,2011) Xenlulo là loại hợp chất khá bền vững, không tan trong nước (chỉ phồng lên do hấp thụ nước). Xenlulo không được tiêu hóa trong đường tiêu hóa của người.
Sở dĩ động vật nhai lại và con người có thể đồng hóa được xenlulo là nhờ hoạt động phân giải xenlulo của rất nhiều loại vi sinh vật (sống trong dạ dày cơ và trong đường tiêu hóa của người). Cơ chế phân giải xenluloza. * Hemixenluloza Trong tế bào thực vật, hemixenluloza đứng thứ hai về khối lượng. Hemixenluloza là nhóm polisacarit có phân tử lượng nhỏ hơn rất nhiều so với n 5 xenluloza.
Thông thường chúng chỉ có 150 gốc đường. Các gốc đường được nối với nhau bằng liên kết β – 1,4, β – 1,5, β – 1,6 glucozit. Chúng tạo thành mạch ngắn và phân nhánh. Do đó, so với xenluloza thì hemixenluloza có cấu trúc không chặt chẽ bằng, chúng dễ dàng bị phân giải khi bị axit loãng tác dụng.
Đôi khi hemixenluloza còn bị phân giải trong nước nóng và chúng dễ dàng bị phân giải bởi enzyme hemixenlulaza. Hemixenluloza tồn tại chủ yếu ở các phần như hạt, bẹ ngô, cám, rơm rạ, trấu. Trong các loại hemixenluloza thì xylan là loại có nhiều trong tự nhiên. Trong đó nhiều nhất là ở rơm rạ (chiếm hơn 30%) kể đến là cây lá rộng (20 – 30%), ở cây lá kim xylan ít hơn nhiều (7 – 17%) (Nguyễn Đức Lượng, 1996) [6].
Vi sinh vật phân giải xilan: Nhiều loại vi sinh vật có khả năng phân giải xilan. Các vi sinh vật có khả năng phân giải xenlulo khi sản sinh ra enzyme celuloza thường sinh ra enzyme xilanaza. *Lignin Lignin là một trong những thành phần chủ yếu của tổ chức thực vật. Lignin và xenlulo tham gia vào thành phần của màng tế bào thực vật.
Trong xác cây gỗ, lignin chiếm tới 30 - 40% chất khô. Trong cây hòa thỏa: 20%. Lượng lignin chứa trong cây già nhiều hơn so với trong cây non. Thực vật khác nhau thì bản chất của những nguyên tố cấu trúc cũng khác nhau.
Lignin là hợp chất rất bền vững, không tan trong nước, dưới tác dụng của kiềm, bisunphit natri và H2SO4 thì lignin mới bị phân giải một phần và chuyển sang dạng hòa tan. Lignin là một chất trùng hợp trong đó chứa nhân thơm. Đơn vị cấu trúc của nó là dẫn xuất của phennin – propan. Nhân thơm của lignin có một loạt mạch ngang trong đó có nhóm – OCH3 giữ vai trò rất quan trọng.
n 6 Nhân benzene, napthalen, antraxen, furan, piron, indol, piridin và quinolin. Công thức tổng quát của lignin là C18H30O15 (Dư Ngọc Thành,2011) [9]. Vi sinh vật phân giải lignin Nấm mốc Basidomycetes phá hoại gỗ có thể chia thành 2 nhóm. Một nhóm có thể chuyển hóa nhanh chóng gỗ thành một khối màu đỏ, chủ yếu là phá hủy xenlulo và hemixenlulo, không có tác động lên lignin.
Một nhóm phân giải gỗ thành một khối trắng chúng chủ yếu tác động lên lignin, hầu như không làm phân giải xenlulo. Các loại nấm tác động lên lignin: Polysitctus versicolor, Stereum hisutum, Pholiota, Clytocybe, Lenzites, Trametes. Nhiều loại vi khuẩn và xạ khuẩn cũng có khả năng phân giải lignin. Các loài vi khuẩn có hoạt tính phân giải lignin cao thường thuộc về các giống Pseudomonas, Flavobacterium, Agrobacterium.
Một phần các sản phẩm phân giải lignin sẽ được vi sinh vật huy động vào việc tổng hợp ra chất mùn của đất, một phần khác sẽ bị oxy hóa (Dư Ngọc Thành) [9].Cơ sở pháp lý xử lý tàn dư rơm rạ bằng chế phẩm sinh học - Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII kỳ họp thứ 13 thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. - Thông tư số 19/2010/TT-BTNMT ngày 12 tháng 10 năm 2010 của Bộ tài nguyên và Môi trường Quy định đăng ký lưu hành chế phẩm sinh học trong chấ t thải ta ̣i Viê ̣t Nam. - Thông tư số 23/2015/TT-BNNPTNT ngày 22/6/2015 về quản lý sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường dùng trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. n 7 - Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.