Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ô nhiễm môi trường từ phế thải nông nghiệp sau thu hoạch là một trong những thách thức sinh thái nghiêm trọng tại khu vực nông thôn Việt Nam. Tại xã Sơn Thành (huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình), một địa phương thuần nông có diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt 355,79 ha chuyên canh lúa nước hai vụ/năm, quá trình thâm canh tăng vụ và dồn điền đổi thửa đã làm gia tăng đáng kể khối lượng phụ phẩm rơm rạ. Sự thay đổi trong cơ cấu năng lượng nông thôn (chuyển sang dùng gas, than, điện thay cho chất đốt truyền thống) khiến rơm rạ không còn được thu gom làm nhiên liệu hay thức ăn gia súc với tỷ lệ lớn như trước. Phần lớn phế thải bị đốt trực tiếp ngoài đồng ruộng hoặc vứt bừa bãi xuống hệ thống kênh mương tưới tiêu, làm tắc nghẽn dòng chảy, gây khói bụi, thất thoát dinh dưỡng khoáng trong đất (đặc biệt là kali và silic) và phát thải lượng lớn khí nhà kính. Khóa luận được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng phát sinh tàn dư rơm rạ và thử nghiệm giải pháp sinh học để tái sử dụng nguồn phụ phẩm này thành phân bón hữu cơ.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Điều tra lượng tàn dư rơm rạ trên đồng ruộng phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp tại xã Sơn Thành, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
  2. Đánh giá hiệu quả xử lý tàn dư rơm rạ bằng một số loại chế phẩm sinh học (EM và Emina) phục vụ sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  • Sử dụng phiếu điều tra nông hộ để khảo sát tình hình phát sinh và các hình thức xử lý tàn dư rơm rạ tại địa phương.
  • Tiến hành đo đạc, tính toán lượng phế thải thực tế trên đồng ruộng theo mùa vụ.
  • Thiết kế mô hình ủ rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh vật kết hợp phụ gia, theo dõi diễn biến nhiệt độ và phân tích các chỉ tiêu hóa lý của phân ủ trước và sau 45 ngày thí nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tàn dư rơm rạ từ sản xuất lúa và hai loại chế phẩm sinh học gồm chế phẩm EM (Effective Microorganisms) và chế phẩm Emina (Effective Microorganisms of Institute of Agrobiology).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Sơn Thành, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và theo dõi thực nghiệm được triển khai từ tháng 9/2015 đến tháng 11/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học và pháp lý

Quá trình phân giải tàn dư thực vật dựa trên hoạt động chuyển hóa sinh hóa của hệ vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí đối với các thành phần cao phân tử cấu tạo vách tế bào thực vật:

  • Xenluloza: Hợp chất cao phân tử mạch thẳng cấu tạo từ các mắt xích $\beta$-D-Glucose qua liên kết $\beta$-1,4 glucoside với công thức $[C_6H_7O_2(OH)_3]_n$ ($n = 5000 - 14000$), chiếm 35% - 50% khối lượng khô sinh khối. Quá trình khoáng hóa diễn ra nhờ hệ enzyme cellulase của vi khuẩn, nấm và xạ khuẩn.
  • Hemixenluloza: Polysaccharide mạch phân nhánh ngắn (~150 gốc đường, liên kết $\beta$-1,4, $\beta$-1,5, $\beta$-1,6 glucoside) với thành phần chủ yếu trong rơm rạ là xylan (chiếm trên 30%), dễ bị thủy phân hơn xenluloza dưới tác dụng của enzyme xylanase.
  • Lignin: Hợp chất trùng hợp có cấu trúc mạch thơm phức tạp (công thức tổng quát $C_{18}H_{30}O_{15}$), liên kết chặt chẽ với xenluloza và hemixenluloza, có khả năng bị phân giải bởi nấm mục trắng (Basidiomycetes) và các chi vi khuẩn như Pseudomonas, Flavobacterium, Agrobacterium.

Khung pháp lý áp dụng: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014; Thông tư số 19/2010/TT-BTNMT (quy định đăng ký lưu hành chế phẩm sinh học trong chất thải tại Việt Nam); Thông tư số 23/2015/TT-BNNPTNT; Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; Thông tư số 51/2009/TT-BNNPTNT; Nghị định số 35/2015/NĐ-CP (về quản lý và sử dụng đất trồng lúa); Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 25/2008/NĐ-CP, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP và Nghị định số 199/2013/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Số liệu niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Sơn Thành, tài liệu khoa học và số liệu thống kê sản xuất lúa gạo của FAO, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra phỏng vấn trực tiếp 65 hộ nông dân tại 13 thôn của xã Sơn Thành (mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 5 hộ) bằng bảng hỏi có sẵn nhằm thu thập thông tin về diện tích canh tác, năng suất, lượng phế thải phát sinh và tập quán xử lý phụ phẩm.
  • Bố trí thí nghiệm ủ rơm rạ: Thí nghiệm gồm 3 công thức với quy mô 3 tạ rơm rạ/đống ủ:
    • Công thức đối chứng (CT1): 3 tạ rơm rạ + phụ gia (30 kg phân gà, 3 kg phân lân, 0,6 kg đạm urê, 0,3 kg kali) + nước giữ ẩm + phủ bạt nilon (không bổ sung chế phẩm vi sinh).
    • Công thức 2 (CT2): 3 tạ rơm rạ + phụ gia tương tự CT1 + 2 lít dung dịch chế phẩm vi sinh vật EM (cung cấp bởi Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên).
    • Công thức 3 (CT3): 3 tạ rơm rạ + phụ gia tương tự CT1 + 1 lít dung dịch chế phẩm vi sinh vật Emina (Viện Sinh học Nông nghiệp – Học viện Nông nghiệp Việt Nam).
  • Phương pháp phân tích chỉ tiêu:
    • Nhiệt độ đống ủ: Đo trực tiếp bằng nhiệt kế $100^\circ\text{C}$ ở độ sâu 1 m tại 3 vị trí (giữa và hai bên đống ủ lấy trung bình) vào 10h00 sáng; đo hàng ngày trong 10 ngày đầu và định kỳ 5 ngày/lần cho đến ngày thứ 45.
    • pH: Đo bằng máy đo pH meter.
    • Hàm lượng Mùn (%): Phân tích theo phương pháp tiêu chuẩn phòng thí nghiệm.
    • Hàm lượng Nitơ tổng số (N %): Phương pháp Kjeldahl (vô cơ hóa mẫu bằng $H_2SO_4$ đặc có xúc tác).
    • Hàm lượng Phốt pho tổng số ($P_2O_5$ %): Phương pháp so màu quang phổ sau khi công phá mẫu bằng hỗn hợp $H_2SO_4 + HClO_4$.
    • Hàm lượng Phốt pho dễ tiêu ($P_2O_5$ mg/100g): Kết tủa phosphat dưới dạng magie-amoni phosphat và nung cân dưới dạng $Mg_2P_2O_7$.
    • Xử lý số liệu: Tính toán và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp thâm canh tạo ra lượng phế thải hữu cơ lớn nhưng chưa có quy trình xử lý triệt để tại xã Sơn Thành. Xác định rõ mục tiêu, 3 yêu cầu nghiên cứu cụ thể và ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu về quản lý chất thải nông nghiệp và giải pháp ủ phân vi sinh tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Tổng hợp cơ sở lý thuyết về cấu trúc phân tử xenluloza, hemixenluloza, lignin và cơ chế enzyme phân giải chất xơ của các nhóm vi sinh vật hiếu khí/kỵ khí.
  • Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về bảo vệ môi trường nông nghiệp và quản lý chế phẩm sinh học xử lý chất thải.
  • Thống kê hiện trạng sản xuất lúa gạo thế giới năm 2013–2014 (sản lượng toàn cầu đạt 496,6–497,5 triệu tấn gạo; các nước sản xuất lớn gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan) và sản lượng lúa Việt Nam năm 2014 đạt 44,84 triệu tấn trên 7,8 triệu ha.
  • Đánh giá các phương thức xử lý rơm rạ truyền thống và hiện đại (đốt đồng, cày vùi, làm thức ăn gia súc, trồng nấm, ủ phân hữu cơ bằng chế phẩm Biomix-RR, Trichoderma).

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết đối tượng khảo sát (rơm rạ và 2 loại chế phẩm EM, Emina), thời gian nghiên cứu (tháng 9–11/2015), nội dung điều tra thực địa 13 thôn tại xã Sơn Thành, phương pháp điều tra chọn mẫu 65 nông hộ, thiết kế 3 công thức thí nghiệm ủ đống (mỗi đống 3 tạ rơm rạ kèm phân gà và phân bón NPK) và quy trình chuẩn phân tích các chỉ tiêu nhiệt độ, pH, mùn, N, $P_2O_5$ tổng số và dễ tiêu.

Phần 4: Kết quả đạt được

Chương này trình bày toàn bộ số liệu điều tra hiện trạng địa phương và kết quả phân tích thực nghiệm:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Sơn Thành

  • Tổng diện tích tự nhiên: 501,93 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 355,79 ha (70,88%), đất phi nông nghiệp 114,23 ha (22,76%), đất chưa sử dụng 31,91 ha (6,36%).
  • Cơ cấu kinh tế năm 2015: Nông nghiệp chiếm 44,4% (41.878 triệu đồng), Công nghiệp - Xây dựng chiếm 32,3% (30.546 triệu đồng), Thương mại - Dịch vụ chiếm 23,3% (22.000 triệu đồng). Tổng giá trị sản xuất đạt 94.424 triệu đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/năm. Địa phương đạt 13/19 tiêu chí nông thôn mới.

2. Thực trạng phát sinh và xử lý phế thải rơm rạ

  • Qua khảo sát 65 hộ nông dân canh tác 37,22 ha lúa, sản lượng lúa đạt 258,31 tấn/năm, phát sinh 232,65 tấn phế thải rơm rạ/năm (chiếm 95,8% tổng phế thải nông nghiệp điều tra). Định mức phát sinh tàn dư rơm rạ trung bình là 6,11 tấn/ha/năm.
  • Tính toán trên toàn bộ 355,79 ha đất lúa của xã, tổng lượng phế thải rơm rạ phát sinh ước tính đạt 2.173,88 tấn/năm. Nếu tính theo diện tích gieo trồng 2 vụ (771,58 ha), lượng phế thải phát sinh trên đồng ruộng là 4.714,35 tấn/năm (chiếm 99,2% tổng phế thải trồng trọt).
  • Về tập quán xử lý: 43% để lại ngoài đồng ruộng, 28% đốt lấy tro, 15% làm chất đốt sinh hoạt, 10% làm thức ăn gia súc, 4% ủ gốc cây trồng và 0% hộ gia đình thực hiện ủ làm phân hữu cơ.
  • Tính toán tải lượng ô nhiễm do đốt rơm rạ: Nếu đốt toàn bộ 2.173,88 tấn rơm rạ/năm của xã sẽ phát thải vào khí quyển 2.826,04 tấn khí $CO_2$; 247.822,32 kg khí $CO$; 123.600,60 kg hợp chất hữu cơ độc hại và 3.726,65 kg tro bụi.
Chỉ tiêu thống kê nông hộ Diện tích (ha) Năng suất trung bình (tấn/ha) Sản lượng (tấn/năm) Khối lượng phế thải (tấn/năm) Tỷ lệ (%) Định mức phế thải (tấn/ha/năm)
Cây lúa (2 vụ) 37,22 6,94 258,31 232,65 95,80 6,11
Cây trồng khác 2,40 2,77 6,65 10,20 4,20 4,16
Tổng cộng 39,62 - 264,96 242,85 100,00 -

3. Kết quả theo dõi diễn biến nhiệt độ đống ủ (45 ngày)

Nhiệt độ các đống ủ tăng nhanh trong những ngày đầu do vi sinh vật phân giải chất hữu cơ sinh nhiệt. Đỉnh nhiệt độ xuất hiện ở ngày thứ 9:

  • Đống ủ CT2 (chế phẩm EM) đạt đỉnh cao nhất ở $70^\circ\text{C}$.
  • Đống ủ CT3 (chế phẩm Emina) đạt đỉnh ở $69^\circ\text{C}$.
  • Đống ủ CT1 (đối chứng) đạt đỉnh thấp hơn ở mức $57^\circ\text{C}$. Giai đoạn duy trì nhiệt độ cao ($55^\circ\text{C} - 70^\circ\text{C}$) giúp kích hoạt vi sinh vật ưa nhiệt, đẩy nhanh tốc độ hoai mục và tiêu diệt hạt cỏ dại cùng mầm bệnh. Sau đó nhiệt độ giảm dần và đến ngày thứ 45 đạt mức ổn định ($41^\circ\text{C}$ ở CT2, $39^\circ\text{C}$ ở CT3 và $25^\circ\text{C}$ ở CT1).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các kết quả đạt được về định lượng phế thải và chất lượng phân hữu cơ sau ủ; đề xuất chính quyền xã tăng cường tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật ủ rơm rạ bằng chế phẩm EM và Emina đến từng hộ dân nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.


Kết quả và đóng góp

Kết quả phân tích chất lượng phân hữu cơ sau 45 ngày ủ

Chất lượng đống ủ có bổ sung chế phẩm sinh học (EM, Emina) vượt trội so với đống ủ đối chứng không bổ sung chế phẩm trên tất cả các chỉ tiêu hóa lý:

Chỉ tiêu phân tích Trước khi ủ Đống ủ CT1 (Đối chứng) Đống ủ CT2 (Chế phẩm EM) Đống ủ CT3 (Chế phẩm Emina)
pH 7,06 7,21 7,47 7,52
Mùn (%) 2,55 2,89 3,74 3,91
Nitơ tổng số (N %) 0,15 0,17 0,22 0,23
$P_2O_5$ tổng số (%) 0,83 1,70 1,93 2,05
$P_2O_5$ dễ tiêu (mg/100g) 180,00 224,34 278,94 289,93

Đặc điểm cảm quan và biến thiên hóa sinh:

  • Đống ủ xử lý bằng vi sinh vật chuyển sang màu nâu đen, kết cấu tơi xốp, dễ vụn vỡ, không còn mùi hôi thối khó chịu.
  • Hàm lượng mùn ở công thức sử dụng Emina đạt 3,91% (tăng 1,36% so với trước ủ) và EM đạt 3,74%, cao hơn rõ rệt so với đối chứng (2,89%).
  • Hàm lượng $P_2O_5$ dễ tiêu ở đống ủ Emina đạt mức cao nhất (289,93 mg/100g), tiếp đến là EM (278,94 mg/100g), tăng vượt trội so với trước khi ủ (180 mg/100g) và đống ủ đối chứng (224,34 mg/100g).

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Đóng góp dữ liệu: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm định lượng đầu tiên về tải lượng phát sinh rơm rạ (6,11 tấn/ha/năm) và cơ cấu xử lý chất thải trồng trọt tại xã Sơn Thành, huyện Nho Quan.
  • Hiệu quả môi trường và kinh tế: Khẳng định khả năng thay thế tập quán đốt đồng gây phát thải hàng nghìn tấn $CO_2$ và khói bụi bằng quy trình ủ kỵ khí kết hợp chế phẩm sinh học nội địa (EM, Emina). Việc tự sản xuất phân bón hữu cơ tại chỗ từ 1 tấn rơm rạ giúp nông dân tận dụng phụ phẩm sẵn có, giảm chi phí mua phân bón vô cơ (đạm, lân, kali), cải tạo độ phì nhiêu và hạn chế suy thoái đất canh tác lâu dài.
  • Giải pháp đề xuất: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật ủ phân vi sinh vật cho nông dân tại 13 thôn; lồng ghép tiêu chí quản lý chất thải đồng ruộng vào chương trình xây dựng nông thôn mới của xã.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Quy mô khảo sát nông hộ dừng lại ở 65 hộ dân (5 hộ/thôn), đại diện cho một phần diện tích canh tác của xã.
    • Mô hình thực nghiệm mới chỉ thực hiện ở quy mô đống ủ 3 tạ rơm rạ trong thời gian theo dõi 45 ngày (tháng 9 đến tháng 11/2015), chưa tiến hành thử nghiệm bón phân hữu cơ sau ủ trực tiếp trên các loại cây trồng ngoài đồng ruộng để đánh giá năng suất cây trồng thực tế.
    • Chưa so sánh thêm các dạng chế phẩm vi sinh dạng bột hoặc chủng phân giải chuyên biệt khác (như nấm Trichoderma xử lý trực tiếp trên ruộng ướt).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Thử nghiệm bón lót và bón thúc sản phẩm phân hữu cơ thu được từ đống ủ rơm rạ cho lúa vụ chiêm và cây màu vụ đông để đánh giá hiệu quả kinh tế và độ phì đất qua nhiều chu kỳ canh tác.
    • Nghiên cứu quy trình phun chế phẩm vi sinh trực tiếp tại ruộng kết hợp cày dập rạ để rút ngắn thời gian phân hủy tàn dư giữa hai vụ lúa liên tiếp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa chính Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Khoa học Môi trường, Nông học và Khuyến nông.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Bộ số liệu điều tra thực tế về tỷ lệ phát sinh phế thải nông nghiệp và phương pháp tính toán tải lượng phát thải khí nhà kính từ đốt rơm rạ trên quy mô cấp xã.
    • Công thức phối trộn nguyên liệu (3 tạ rơm rạ + 30 kg phân gà + 3 kg lân + 0,6 kg đạm + 0,3 kg kali + chế phẩm vi sinh) và quy trình kỹ thuật theo dõi kiểm soát nhiệt độ đống ủ phân hữu cơ.
    • Các phương pháp phân tích hóa lý môi trường tiêu chuẩn (Kjeldahl, so màu quang phổ, kết tủa phosphat).

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng phế thải rơm rạ phát sinh bình quân từ sản xuất lúa tại xã Sơn Thành là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra 65 nông hộ, định mức phát sinh rơm rạ trung bình từ trồng lúa 2 vụ là 6,11 tấn/ha/năm. Với tổng diện tích 355,79 ha đất trồng lúa, lượng rơm rạ phát sinh toàn xã ước tính là 2.173,88 tấn/năm.

2. Người dân xã Sơn Thành đang xử lý rơm rạ sau thu hoạch theo những hình thức nào và tỷ lệ ra sao?
Kết quả khảo sát cho thấy có 5 hình thức chính: 43% rơm rạ bị để lại ngoài đồng ruộng, 28% bị đốt lấy tro, 15% dùng làm chất đốt đun nấu, 10% làm thức ăn cho gia súc, 4% dùng ủ gốc cây trồng và hoàn toàn chưa có hộ nào (0%) thực hiện ủ rơm rạ làm phân bón hữu cơ.

3. Nhiệt độ tối đa của các đống ủ đạt được trong thí nghiệm là bao nhiêu và vào thời gian nào?
Nhiệt độ cao nhất của cả 3 đống ủ đều đạt được vào ngày thứ 9 của quá trình ủ: công thức dùng chế phẩm EM đạt $70^\circ\text{C}$, công thức dùng chế phẩm Emina đạt $69^\circ\text{C}$, trong khi đống ủ đối chứng chỉ đạt tối đa $57^\circ\text{C}$.

4. Sau 45 ngày ủ, chất lượng dinh dưỡng của đống ủ dùng chế phẩm sinh học thay đổi như thế nào so với trước khi ủ?
Hàm lượng mùn tăng từ 2,55% lên 3,74% (CT dùng EM) và 3,91% (CT dùng Emina); Nitơ tổng số tăng từ 0,15% lên 0,22% (EM) và 0,23% (Emina); Phốt pho dễ tiêu tăng mạnh từ 180 mg/100g lên 278,94 mg/100g (EM) và 289,93 mg/100g (Emina).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thị Thu Thảo đã phản ánh chính xác thực trạng phát sinh tàn dư rơm rạ lớn (trên 2.173 tấn/năm) nhưng chưa được xử lý hợp lý tại xã Sơn Thành, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm khẳng định việc ứng dụng chế phẩm sinh học EM và Emina kết hợp phụ gia phân chuồng và phân khoáng giúp nâng cao nhiệt độ đống ủ lên $69^\circ\text{C} - 70^\circ\text{C}$, rút ngắn thời gian hoai mục và tạo ra phân bón hữu cơ có hàm lượng mùn, đạm và lân dễ tiêu cao. Đây là giải pháp kỹ thuật nông nghiệp sinh thái khả thi, vừa giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm không khí do đốt rơm rạ, vừa góp phần cải tạo đất và phát triển canh tác bền vững tại địa phương.