Mở Đầu 16 phần lớn diện tích mỏ Nhân Cơ đã được tìm kiếm đánh giá trong "Đề án tìm kiếm đánh giá mỏ bauxite laterit Đạo Nghĩa và Bắc Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Lắk" với khối lượng khoảng 300 giếng. Các công trình nói chung đã bố trí theo quy mô, kích thước thân quặng, nhưng phân bố không đều. Đầu năm 2006, một phần diện tích của mỏ đã được lấy mẫu công nghệ cho dự án xây dựng Nhà máy tuyển quặng và sản xuất alumin 300. Trên diện tích mỏ có mặt các thành tạo của Điệp La Ngà (J2ln), các đá bazan của hệ tầng Túc Trưng (βN2 – Q1tt), và các thành tạo Đệ Tứ.
Điệp La Ngà (J2ln) Các trầm tích Jura của Điệp La Ngà lộ ra chủ yếu ở nửa phần phía đông của mỏ tại ba nơi với tổng diện tích lộ khoảng 17 – 18 km2: dọc phần hạ nguồn của sông Daknong từ ngã ba suối Đăk Tih đổ vào sông Daknong, ở phần thượng nguồn của các nhánh suối Đăk Nic, trên đỉnh B’Nam B’Ra (899 m) và một diện tích nhỏ ở xã Quảng Khê (2 km2). Thành phần gồm cát kết hạt vừa - nhỏ màu xám cấu tạo khối xen cát bột kết; cát bột kết, cát kết hạt vừa xen bột sét, cấu tạo phân dải, bị sừng hoá yếu; đá phiến sét, sét bột màu đen, xám đen và phiến sét đen hạt mịn bị sericit hoá yếu. Bề dày chung của trầm tích Điệp La Ngà khoảng 500m, chúng bị uốn nếp theo hướng đông bắc – tây nam, bị xâm nhập granit tuổi Creta xuyên cắt và bazan N2 – Q1 phủ lên trên. Hệ tầng Túc Trưng (βN2 – Q1tt) Các thành tạo bazan của hệ tầng phủ trên hầu hết diện tích mỏ.
Theo các tài liệu nghiên cứu và khảo sát, có thể chia các thành tạo bazan thành hai pha dưới và trên chen giữa bởi các trầm tích tướng hồ. Bazan dưới phân bố rất rộng, chiếm hầu hết diện tích mỏ. Chúng có sự biến đổi độ hạt từ dưới lên trên: bazan hạt nhỏ giàu plagioclas, bazan hạt vừa và trên cùng là bazan hạt vừa - lớn với lượng bazan olivin tăng cao. Các đá thường gặp trong thành tạo bazan dưới là: bazan pyroxen, bazan olivin, plagioclas và hiếm hơn là hyalobazan.
Đá thường có màu xám đen, đen xanh, xám lục, cấu tạo đặc sít, dòng chảy, lỗ hổng. Kiến trúc porphyr với nền gian phiến, kiến trúc hạt nhỏ, hoặc khảm ofit. Các ban tinh Mở Đầu 17 thường gặp là plagioclas (8 – 15 %), ogit (7 – 15 %), ít hyperten, olivin (1 – 6 %) đôi khi (10%). Nền vi tinh gồm plagioclas (35–50 %), ogit (10–20 %), thủy tinh (10–20 %), và khoáng vật quặng (1–5 %).
Bazan trên tạo thành những thể nhỏ hoặc những vòm phủ rộng phân bố ở mức địa hình 600 – 700m. Diện phân bố hẹp và khó phân chia tách biệt ngoài thực tế. Các đá thường gặp trong các thành tạo này là bazan olivin và dolerit. Chúng thường có màu xanh đen, xám sẫm, xám đen; cấu tạo dòng chảy, đặc sít, lỗ hổng.
Dưới kính hiển vi đá có kiến trúc afia hoặc kiến trúc gian phiến, kiến trúc ofit hoặc khảm ofit (đối với dolerit). Thành phần khoáng vật chủ yếu là: plagioclas (40 – 50 %), ogit (10 – 15 % đối với bazan olivin và 30 – 35% đối với dolerit), thủy tinh (20 –25%) và (1 – 3%) đối với dolerit và manhetit. Các bazan của hệ tầng Túc Trưng có bề dày: 100 đến 150 m. Đặc điểm vỏ phong hóa các đá bazan : Mặt cắt cấu tạo vỏ phong hóa các đá bazan của hệ tầng Túc Trưng từ trên xuống gồm: đới thổ nhưỡng laterit, đới laterit chứa bauxite, đới litoma (sét cấu trúc), đới bazan biến đổi yếu (saprolit) và đới bazan rạn vỡ.
¾ Đới thổ nhưỡng laterit : Đới này có chiều dày 0,5 – 2,0 m; gồm cát, sét mịn xốp, ít dăm sạn laterit và chứa các mảnh kết vón bauxit có màu nâu vàng, nâu hồng. Nhiều nơi, đới thổ nhưỡng laterit nằm phủ trực tiếp trên đới laterit chứa bauxit. ¾ Đới laterit chứa bauxite : Đây là đới sản phẩm chủ yếu-kết quả của quá trình phong hóa laterit các đá bazan. Đới gồm các loại bauxit cấu tạo kết vón với hình dạng khác nhau, giả cầu và nằm xen trong sét.
Tỷ lệ và kích thước các kết hạch, các giả cầu thay đổi giảm theo chiều sâu. Ngược lại, hàm lượng kaolinit tăng theo chiều sâu còn hàm lượng gipxit và gơthit lại giảm. Chiều dày của đới từ 1,0 ÷ 10,0m, trung bình 4,0 ÷ 5,0m. Các thân quặng bauxit đều nằm trong đới này.
¾ Đới litoma (sét cấu trúc) : Đới này nằm ngang tiếp phía dưới đới laterit chứa bauxit, gồm các loại sét có màu sắc khác nhau, nằm xen kẽ, lộn xộn từ màu nâu đỏ, đỏ quánh, xám sáng, tím xanh, lốm đốm trắng, … Các khoáng vật thứ sinh gồm kaolinit, gipxit, hematit, haluazit. Chiều dày của đới litoma có nơi đạt đến vài chục mét. Một điều khá đặc biệt là đới litoma phát triển rộng rãi ở nửa phần phía đông của mỏ, còn nửa phần phía tây ít lộ ra. Mở Đầu 18 ¾ Đới bazan biến đổi yếu (Đới saprolit) : Gồm các bazan đã bị biến đổi ở mức độ khác nhau: thành sét, bột sét màu xám xanh, xám nâu.
Đôi khi chúng tạo thành những khối dạng cầu bên ngoài là sét, còn bên trong là bazan tươi hoặc bị rửa lũa. Đá còn giữ được cấu trúc của bazan dạng cầu. Thành phần khoáng vật gồm kaolinit, haluazit, gơtit, gipxit và felspat. Đới này dày vài ba mét.
¾ Đới bazan rạn vỡ : Nằm trên đá bazan gốc là đá bazan rạn vỡ, thô, nứt nẻ thành nhiều khối lớn nhỏ khác nhau và còn khá rắn chắc. Lấp đầy các khe nứt hoặc bám theo các khe nứt là các khoáng vật biểu sinh: kaolinit, haluazit, gơthit, dạng màng mỏng màu đen, chúng được tạo do tác dụng của nước và các oxyt. Bề dày của đới bazan rạn vỡ từ 4,0 ÷ 10,0 m. Đặc điểm các thân quặng bauxit Các thân quặng bauxit laterit trong phạm vi mỏ Nhân Cơ cũng giống như các mỏ khác của vùng quặng Đắk Nông, có liên quan chặt chẽ với vỏ phong hóa laterit các đá bazan N2 – Q1.
Căn cứ các tài liệu nghiên cứu bauxit laterit trước đây, chúng tôi đã khoanh vẽ 55 thân quặng lớn nhỏ trong đó có 20 thân quặng nằm trong các diện tích cấm thăm dò. Các thân quặng bauxite laterit phân bố khá dày và đều khắp trong phạm vi mỏ. Mức cao phân bố của các thân quặng giảm dần từ phần tây bắc (680 – 740 m), đông bắc (650 – 700 m) xuống phần trung tâm mỏ (600 – 650 m) và thấp nhất ở phần tây – tây nam mỏ (550 – 650 m). Kích thước và hình dạng của các thân quặng cũng rất khác nhau: từ vài trăm nghìn m2 đến hơn 10 km2.
Các thân quặng phát triển chủ yếu theo phương tây bắc – đông nam, bắc – nam và một ít theo phương đông bắc – tây nam. Chúng kéo dài từ 2 km đến 13 – 14 km; rộng từ vài trăm mét đến 1000 – 1200 m. Chiều dày của đới bauxite thay đổi từ: 1,0 – 12,0 m, trung bình 4,29 m và phụ thuộc vào yếu tố địa hình - địa mạo. Hàm lượng các hợp phần trong quặng bauxite nguyên khai thay đổi khá lớn : Al2O3 từ 31,71 ÷ 53,64 (%), trung bình 45,05 (%); SiO2: 1,04 ÷ 17,59 (%), trung bình 5,81 (%).
Thành phần vật chất trong các thân quặng gồm các mảnh, tảng, kết hạch, kết vón nằm trong sét mềm bở; tỷ lệ và kích thước của chúng giảm theo chiều sâu. Theo hình thái, phân chia các loại quặng bauxite khác nhau: bauxite dạng kết tảng, dạng xỉ, dạng giả Mở Đầu 19 cầu, kết vón và cuội tảng có nguồn gốc deluvi. Các đặc điểm về thành phần vật chất, kích thước, màu sắc, diện phân bố, hàm lượng các hợp phần của các loại quặng bauxite nêu trên ở mỏ Nhân Cơ cũng có nhiều nét tương đồng như quặng ở các mỏ khác của vùng quặng Daknong. Chất lượng quặng ở đây được xếp vào loại trung bình.
Tài nguyên dự báo quặng bauxit nguyên khai của toàn mỏ đạt: 656 triệu tấn, trữ lượng quặng tinh (hệ số thu hồi 0,41) đạt: 269 triệu tấn. Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy rằng: việc đánh giá trữ lượng của Lưxov I.M và Nguyễn Thanh Châu (1986) có độ tin cậy cao. Các tác giả đã đánh giá trữ lượng của từng mỏ được dựa trên những công trình cụ thể ở phần trung tâm và ngoại suy ra rìa xung quanh.V, Phạm Đình Hiến và những người khác (1990) dựa trên kết quả thăm dò Mỏ 1-5 so sánh với kết quả tìm kiếm trước đây và suy ra trữ lượng các mỏ còn lại, chưa được thăm dò. Việc suy diễn này còn mang tính chủ quan.
Phương Pháp Địa Thống Kê.1 Lịch sử Địa Thống Kê Địa thống kê được hiểu như một phương pháp phân tích số liệu thống kê liên quan đến các ngành khoa học Trái đất, trong đó một ứng dụng quan trọng là tính toán các thông số tại khu vực không thể lấy mẫu (unsampled location). Địa thống kê đã có ý nghĩa thống kê ứng dụng cho địa chất và nhiều hơn trong tổng quan khoa học Trái đất. Vào 1952, một số khái niệm sơ khai của Địa thống kê được giới thiệu trong một bài báo như support, spatial structure, selective mining units và grade-tonnage curves. Giai đoạn 1945 – 1965 : giai đoạn của Địa thống kê tuyến tính.
Hai tập của bộ sách Traité de Géostatistique Appliquée lần lượt được xuất bản vào 1962 và 1963 được viết bởi Matheron đã giới thiệu đến Variogram như một công cụ để tính toán giá trị trung bình của khối và phương sai của chúng và 4 mô hình variogram cũng đã được định nghĩa. Giai đoạn 1966 – 1974: giai đoạn của Địa thống kê vô tuyến tính. Một bài báo của Matheron vào 1967 với tiêu đề “A contribution to polemics in mathemetical geology” , Mở Đầu 20 đặt và giải quyết vấn đề về hướng xác định của dữ liệu, và simple kriging có thể được áp dụng đối với mô hình bước ngẫu nhiên với Stationary. Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ 1975, giai đoạn phát triển và ứng dụng những phát triển của Địa thống kê vào các các ngành khoa học.
Krige viết cuốn Lognormal-de Wijsian Geostatistics for Ore Evaluation vào 1978 (và tái bản lần 2 vào 1981), giới thiệu các lý thuyết cơ bản về thống kê toán học, địa thống kê và những ứng dụng vào đánh giá mỏ quặng. Nguyên lý của địa thống kê.