Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, với quy mô dân số trên 10 triệu người, nhu cầu tiêu thụ nông sản và thực phẩm rất lớn. Theo số liệu của Sở Công Thương, khối lượng hàng hóa từ các tỉnh thành vận chuyển về các chợ đầu mối của thành phố ước tính đạt khoảng 9.205 tấn/ngày. Đi cùng với lưu lượng hàng hóa này là lượng rác thải phát sinh hàng ngày lên đến 240 tấn/đêm, chủ yếu đến từ các hoạt động sơ chế, phân loại và đóng gói nông sản (rau, củ, quả bị dập nát, héo úa hoặc hư hỏng). Riêng tại Chợ đầu mối Bình Điền, số liệu từ Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM ghi nhận lượng chất thải rắn phát sinh cần thu gom, vận chuyển khoảng 40 tấn/ngày, tập trung lớn nhất tại khu vực Nhà lồng B (ngành hàng rau, củ, quả, nấm, gia vị) và Nhà lồng T (ngành hàng trái cây).

Thực trạng này tạo ra áp lực lớn cho công tác quản lý chất thải và gây ô nhiễm môi trường nếu chỉ áp dụng biện pháp chôn lấp truyền thống. Việc tái chế chất thải hữu cơ thành phân compost là giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng cao, giúp chuyển hóa phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn dinh dưỡng hữu cơ phục vụ canh tác. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Nghiên cứu ủ phân compost từ nguồn rác thải hữu cơ chợ đầu mối Bình Điền và thử nghiệm hiệu quả bón sản phẩm trên cây xà lách (Lactuca sativa L.)" do sinh viên Trần Dương Tiến thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Bình tại Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 2 nội dung:

  1. Xác định tỷ lệ phối trộn giữa rác thải hữu cơ và một số loại nguyên liệu bổ sung phù hợp với hai phương pháp ủ khác nhau (phương pháp thùng xoay và phương pháp thùng tĩnh có cấp khí).
  2. Đánh giá chất lượng phân ủ và khả năng thay thế lượng đạm hóa học qua bón thử nghiệm trên cây xà lách trồng chậu.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Bố trí thí nghiệm ủ phân, theo dõi các chỉ tiêu lý hóa (nhiệt độ, ẩm độ, pH, EC, độ mặn, C/N, đạm tổng số) và sinh học (vi khuẩn E. coli, Salmonella) theo các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành đối với phân bón hữu cơ truyền thống.
  • Bố trí thí nghiệm trồng xà lách xoăn trong chậu cát sạch, theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng và cấu thành năng suất.
  • Xử lý và phân tích số liệu thống kê.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:

  • Không gian: Toàn bộ thí nghiệm ủ và trồng khảo nghiệm được tiến hành tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM.
  • Thời gian: Từ tháng 8/2023 đến tháng 5/2024 (Thí nghiệm 1 từ 9/2023 - 11/2023; Thí nghiệm 2 từ 12/2023 - 01/2024; Thí nghiệm 3 từ 02/2024 - 04/2024).
  • Đối tượng và giới hạn: Nguồn rác hữu cơ giới hạn là rác rau, củ, quả (RR) thu gom tại Nhà lồng B và T chợ đầu mối Bình Điền. Các nguyên liệu phụ gia gồm cỏ voi (CV), bã mía (BM) và than sinh học từ lõi bắp (Bio). Khảo nghiệm sinh học thực hiện trên giống xà lách xoăn RADO 708 trong 1 vụ trồng chậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài áp dụng khung lý thuyết về quá trình phân hủy sinh học hiếu khí (composting), các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nông học:

  • Khung tiêu chuẩn và quy chuẩn áp dụng:

    • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón QCVN 01-189:2019/BNNPTNT áp dụng cho phân bón hữu cơ truyền thống (yêu cầu: pH $\ge 5$; Hàm lượng chất hữu cơ $\ge 20%$; Tỷ lệ C/N $\le 12$; Ẩm độ $\le 30%$; E. coli $< 1,1 \times 10^3$ MPN/g; Salmonella: không phát hiện trong 25 g).
    • Phương pháp phân tích mẫu: TCVN 13263-9:2020 (đo pH), TCVN 9294:2012 (đo hàm lượng chất hữu cơ và cacbon tổng số), TCVN 8557:2010 (đo hàm lượng nitơ tổng số).
  • Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

    • Thí nghiệm 1 (Ủ thùng xoay): Thiết bị ủ dạng tang trống dung tích 200 dm³, vận hành quay đảo trộn 1 vòng/phút trong thời gian 10 phút/ngày. Thiết kế thí nghiệm đơn yếu tố, khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức và 2 lần lặp lại, thời gian ủ 30 ngày.
    • Thí nghiệm 2 (Ủ thùng tĩnh hiếu khí): Thùng ủ hình hộp chữ nhật dung tích 94 dm³, cấp khí cưỡng bức từ đáy với lưu lượng 0,64 m³/phút qua 2 ống nhựa PVC đường kính 21 mm đặt song song cách nhau 20 cm. Bố trí đơn yếu tố, hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức và 2 lần lặp lại, thời gian ủ 30 ngày.
    • Thí nghiệm 3 (Thử nghiệm bón xà lách trồng chậu): Bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) gồm 7 nghiệm thức và 3 lần lặp lại (mỗi ô cơ sở gồm 2 chậu, tổng cộng 42 chậu). Chậu trồng có kích thước 65 x 42 x 16 cm (diện tích 0,2 m²), chứa 25 kg cát sạch, mật độ trồng 50 cây/m² (10 cây/chậu).
  • Nguồn dữ liệu và phân tích: Dữ liệu nhiệt độ không khí và ẩm độ thu thập định kỳ tại khu vực trại thí nghiệm. Số liệu nhiệt độ đống ủ đo bằng nhiệt kế (2 - 9 lần/ngày); chỉ tiêu pH, EC, độ mặn đo theo tỷ lệ pha trích 1:5 (w/v) vào các ngày 0, 5, 10, 15, 20, 30 sau ủ. Dữ liệu cây trồng được đo đếm trực tiếp trên 10 cây mẫu ngẫu nhiên/ô cơ sở. Số liệu được tổng hợp bằng Microsoft Excel, phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định so sánh phân hạng trung bình bằng phần mềm R bản 4.3.1.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân bón hữu cơ, công nghệ ủ compost và đặc tính nguyên liệu:

  • Trình bày định nghĩa phân hữu cơ truyền thống và phân hữu cơ công nghiệp theo phân loại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Nêu rõ các phương pháp ủ truyền thống gồm ủ nóng (ủ compost), ủ nguội và ủ hỗn hợp (ủ nóng trước, ủ nguội sau).
  • Phân tích các công nghệ ủ compost hiện đại: ủ theo luống (windrow), ủ đống có cấp khí và ủ trong thùng kín (in-vessel).
  • Tổng hợp các yếu tố công nghệ chi phối quá trình ủ hiếu khí: tỷ lệ C/N tối ưu (20 - 30), kích thước hạt (3 - 50 mm), ẩm độ tối ưu (50 - 60%), độ rỗng khối ủ (35 - 60%, tối ưu 32 - 36%), điều kiện nồng độ oxy ($> 10%$) và giới hạn pH tối ưu cho vi sinh vật hoạt động (5,5 - 8,5).
  • Khái quát thành phần dinh dưỡng và đặc tính của nguồn nguyên liệu: rác thải thực vật có ẩm độ cao (92 - 94%), hàm lượng C (37 - 39%), N (2,5 - 3,0%), C/N khoảng 13,0; cỏ voi (Pennisetum purpureum Schumach.) sinh khối 100 - 400 tấn/ha/năm; bã mía chứa xenlulozo (45 - 55%), hemixenlulozo (20 - 25%), lignin (18 - 24%); than sinh học lõi bắp (biochar) chứa xenlulozo (32,3 - 45,6%) và hemixenlulozo (39,8%).
  • Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải tại chợ đầu mối Bình Điền và điểm luận các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Tất Cảnh, Trần Thị Thanh Tâm, Hà Anh Luân, Nguyễn Thái Bình) cùng nghiên cứu quốc tế (Mbuligwe, Manu, Ajay) về công nghệ compost.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết điều kiện thực nghiệm, đặc tính nguyên liệu ban đầu và quy trình bố trí 3 thí nghiệm:

  • Điều kiện ngoại cảnh: Nhiệt độ không khí dao động từ 25,5 - 38,0°C, ẩm độ không khí từ 54,9 - 91,5%.
  • Đặc tính nguyên liệu đầu vào trước khi ủ:
Chỉ tiêu Rác rau (RR) Bã mía (BM) Cỏ voi (CV) Than sinh học lõi bắp (Bio)
Ẩm độ (%) 62,6 - 81,7 2,5 25,3 1,8
pH (1:5) 7,5 - 7,6 6,8 7,3 7,7
Chất hữu cơ C (%) 44,4 - 45,6 51,1 51,0 7,6
Đạm tổng số $N_{ts}$ (%) 3,4 - 3,5 0,25 0,82 0,85
Tỷ lệ C/N 12,7 - 13,4 204,6 62,2 8,9
E. coli (MPN/g) $1,2 \times 10^5$ - - -
Salmonella (MPN/25g) Không phát hiện - - -
  • Bố trí công thức phối trộn:
    • Thí nghiệm 1 (Thùng xoay 200 dm³):
      • NT1 (ĐC): 100% RR (55,3 kg)
      • NT2: 70% RR + 30% CV (38,9 kg RR + 13,9 kg CV)
      • NT3: 70% RR + 20% CV + 10% BM (38,9 kg RR + 9,2 kg CV + 0,9 kg BM)
      • NT4: 70% RR + 10% CV + 20% BM (38,9 kg RR + 4,6 kg CV + 1,9 kg BM)
      • NT5: 70% RR + 30% BM (38,9 kg RR + 2,8 kg BM)
    • Thí nghiệm 2 (Thùng tĩnh 94 dm³):
      • NT1 (ĐC): 100% RR (18,8 kg)
      • NT2: 70% RR + 30% BM (13,1 kg RR + 1,9 kg BM)
      • NT3: 70% RR + 20% BM + 10% Bio (13,1 kg RR + 1,3 kg BM + 1,2 kg Bio)
      • NT4: 70% RR + 10% BM + 20% Bio (13,1 kg RR + 0,6 kg BM + 2,4 kg Bio)
      • NT5: 70% RR + 30% Bio (13,1 kg RR + 3,6 kg Bio)
    • Thí nghiệm 3 (Trồng xà lách): Sử dụng sản phẩm compost thu được từ NT4 của Thí nghiệm 2 (kí hiệu Compost A). Liều lượng phân bón được tính toán cân bằng lượng $N_{ts}$ nguyên chất ở mức 10 kg $N_{ts}$/1000 m² (ngoại trừ đối chứng không bón):
      • NT1: Đối chứng không bón phân (0 g/chậu).
      • NT2: Phân bò ủ hoai (60,0 g bón lót) + 100% phân hóa học (12,8 g NPK 16-16-8 bón thúc).
      • NT3: 100% Phân hữu cơ thương mại Con Voi Bình Dương (104,3 g bón lót).
      • NT4: 100% Compost A (92,4 g bón lót).
      • NT5: 75% Compost A (69,3 g lót) + 25% PHH (3,2 g thúc).
      • NT6: 50% Compost A (46,2 g lót) + 50% PHH (6,4 g thúc).
      • NT7: 25% Compost A (23,1 g lót) + 75% PHH (9,6 g thúc).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả quan trắc và phân tích từ 3 thí nghiệm:

  1. Kết quả Thí nghiệm 1 (Phương pháp thùng xoay):

    • Nhiệt độ: Tăng nhanh đạt đỉnh 68,5°C ngay trong ngày đầu tiên (1 NSU), duy trì giai đoạn ưa nhiệt ($> 40^\circ\text{C}$) trong 15 ngày, duy trì $> 55^\circ\text{C}$ từ 4 - 5 ngày.
    • pH, EC, độ mặn: pH cuối quá trình dao động 7,5 - 7,9. EC tăng mạnh trong 5 ngày đầu do khoáng hóa chất hữu cơ, đạt từ 10.390 - 15.010 µS/cm (cao nhất ở NT3). Độ mặn cuối đạt 5,3 - 7,8 ‰.
    • Độ sụt giảm thể tích và khối lượng: Thể tích thành phẩm còn 23,1 - 43,8% so với ban đầu. Lượng compost thu hồi đạt 17,5 - 22,9 kg (tỷ lệ thu hồi 35,0 - 46,4%). Lượng dịch rỉ phát sinh cao ở NT1 (13,9 L) và NT2 (9,6 L).
    • Chất lượng lý hóa: Ẩm độ thành phẩm còn rất cao (72,8 - 80,0%), chưa đạt chuẩn QCVN 01-189:2019/BNNPTNT ($< 30%$). Tỷ lệ C/N của NT3 là 16,3 (vượt ngưỡng quy định $\le 12$).
  2. Kết quả Thí nghiệm 2 (Phương pháp thùng tĩnh):

    • Nhiệt độ: Nhiệt độ tăng trên 55°C trong 5 ngày đầu, đáp ứng yêu cầu tiêu diệt mầm bệnh.
    • pH, EC, độ mặn: pH thành phẩm dao động 7,4 - 7,8. EC dao động 10.650 - 12.673 µS/cm (cao nhất ở NT1). Độ mặn cuối đạt 5,3 - 6,8 ‰.
    • Độ sụt giảm thể tích và khối lượng: Thể tích giảm 47,2 - 65,1% (thành phẩm còn lại 34,9 - 52,8%). Tỷ lệ thu hồi khối lượng đạt 38,4 - 53,0% (5,8 - 8,9 kg).
    • Chất lượng compost: Ẩm độ giảm xuống 38,9 - 49,0% (cải thiện rõ rệt so với thùng xoay). Tỷ lệ C/N ở NT4 (10,9) và NT5 (9,9) đạt tiêu chuẩn QCVN ($\le 12$). Sản phẩm NT4 có hàm lượng $N_{ts}$ đạt 2,50%, chất hữu cơ OM đạt 60,1%, mật độ E. coli giảm mạnh từ $1,2 \times 10^5$ xuống $4,3 \times 10^2$ MPN/g, không phát hiện vi khuẩn Salmonella.
Chỉ tiêu chất lượng NT1 NT2 NT3 NT4 NT5 QCVN 01-189:2019
Đạm tổng số $N_{ts}$ (%) - - - 2,50 - -
$\text{pH}_{\text{H}_2\text{O}}$ (1:5) 7,6 7,4 7,4 7,5 7,8 $\ge 5$
EC (1:5) (µS/cm) 12.673 10.650 12.247 11.233 11.137 -
Ẩm độ (%) 38,9 39,6 40,4 42,0 49,0 $\le 30$
Chất hữu cơ OM (%) - - - 60,1 - $\ge 20$
Tỷ lệ C/N 12,3 16,5 13,8 10,9 9,9 $\le 12$
E. coli (MPN/g) - - - $4,3 \times 10^2$ - $< 1,1 \times 10^3$
Salmonella (MPN/25g) - - - KPH - Không phát hiện
  1. Kết quả Thí nghiệm 3 (Hiệu quả bón trên cây xà lách):
Nghiệm thức Chiều cao cây 30 NST (cm) Số lá 30 NST (lá/cây) Trọng lượng tươi thân lá (g/cây) Trọng lượng khô thân lá + rễ (g/cây) Năng suất lý thuyết ($\text{g/m}^2$)
NT1 (ĐC không bón) $13,4^{\text{c}}$ $5,6^{\text{b}}$ $6,9^{\text{c}}$ $0,8^{\text{b}}$ $345,7^{\text{c}}$
NT2 (Phân bò + 100% PHH) $24,5^{\text{ab}}$ $8,2^{\text{a}}$ $25,9^{\text{a}}$ $1,5^{\text{a}}$ $1.292,8^{\text{a}}$
NT3 (100% Phân HC Con Voi) $21,4^{\text{b}}$ $7,5^{\text{a}}$ $16,8^{\text{b}}$ $1,3^{\text{ab}}$ $842,4^{\text{b}}$
NT4 (100% Compost A) $23,2^{\text{ab}}$ $7,6^{\text{a}}$ $18,5^{\text{b}}$ $1,2^{\text{ab}}$ $927,6^{\text{b}}$
NT5 (75% Compost A + 25% PHH) $24,1^{\text{ab}}$ $8,0^{\text{a}}$ $22,3^{\text{ab}}$ $1,3^{\text{ab}}$ $1.117,1^{\text{ab}}$
NT6 (50% Compost A + 50% PHH) $25,3^{\text{a}}$ $8,4^{\text{a}}$ $26,7^{\text{a}}$ $1,5^{\text{a}}$ $1.335,2^{\text{a}}$
NT7 (25% Compost A + 75% PHH) $26,2^{\text{a}}$ $8,7^{\text{a}}$ $26,7^{\text{a}}$ $1,5^{\text{a}}$ $1.332,5^{\text{a}}$

(Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức $p < 0,05$).


Kết quả và đóng góp

  • Kết quả kỹ thuật chính:

    1. Xác định công thức phối trộn tối ưu cho mô hình ủ thùng tĩnh có cấp khí là nghiệm thức NT4 gồm 70% rác rau + 10% bã mía + 20% than sinh học lõi bắp. Sản phẩm tạo ra đạt hàm lượng $N_{ts}$ 2,50% (tương đương phân hữu cơ thương mại Con Voi), pH đạt 7,5, hàm lượng chất hữu cơ OM đạt 60,1% và tỷ lệ C/N đạt 10,9.
    2. Quá trình ủ nhiệt duy trì trên 55°C trong 5 ngày đã giúp khử khuẩn hiệu quả, giảm mật số E. coli từ $1,2 \times 10^5$ xuống $4,3 \times 10^2$ MPN/g và không phát hiện Salmonella, đạt 2 chỉ tiêu an toàn sinh học theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.
    3. Thử nghiệm bón phối hợp giữa Compost A và phân hóa học (NT6: 50% compost + 50% PHH; NT7: 25% compost + 75% PHH) cho năng suất lý thuyết đạt từ 1.332,5 - 1.335,2 $\text{g/m}^2$, tương đương về mặt thống kê so với công thức đối chứng bón 100% phân hóa học (1.292,8 $\text{g/m}^2$).
  • Giải pháp và đề xuất thực tiễn:

    • Đề xuất khả năng ứng dụng phân compost từ rác chợ đầu mối để thay thế và cắt giảm từ 25% đến 75% lượng đạm hóa học theo khuyến cáo trong canh tác rau ăn lá ngắn ngày (xà lách), góp phần giảm thiểu chi phí phân vô cơ và hạn chế nguy cơ tồn dư nitrat trong nông sản.
    • Khuyến nghị sử dụng thùng ủ tĩnh có hệ thống cấp khí đáy kết hợp bổ sung than sinh học lõi bắp để kiểm soát ẩm độ và duy trì cấu trúc xốp cho khối ủ tốt hơn so với mô hình thùng xoay kín.
  • Đóng góp học thuật: Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về động thái nhiệt độ, pH, EC, độ mặn, mức độ sụt giảm thể tích và chất lượng sinh học trong quá trình xử lý rác thải hữu cơ chợ đầu mối có ẩm độ cao khi kết hợp với phụ phẩm bã mía và than sinh học lõi bắp.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Độ ẩm của sản phẩm compost thành phẩm ở cả hai phương pháp (thấp nhất là 38,9% ở NT1 và 42,0% ở NT4 thùng tĩnh) vẫn chưa đạt ngưỡng quy định $\le 30%$ theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.
    • Phân tích chất lượng phân bón mới chỉ tập trung vào một số chỉ tiêu cơ bản (pH, EC, OM, $N_{ts}$, C/N, E. coli, Salmonella), chưa phân tích đầy đủ hàm lượng các kim loại nặng ($As, Cd, Pb, Hg$) và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng khác ($P, K$).
    • Khảo nghiệm hiệu lực nông học chỉ mới thực hiện sơ bộ trên 1 vụ xà lách trồng trong chậu cát sạch tại trại thí nghiệm, chưa đánh giá trên quy mô đồng ruộng và các loại đất tự nhiên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Cải tiến công nghệ thông khí và bổ sung giai đoạn hong khô để đưa ẩm độ phân bón về dưới 30%.
    • Mở rộng phân tích đầy đủ các chỉ tiêu kim loại nặng và độc chất theo quy chuẩn phân bón.
    • Tiếp tục thử nghiệm hiệu lực của compost qua nhiều vụ liên tiếp trên các loại cây trồng và nền đất canh tác khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ kỹ thuật thuộc các ngành Nông học, Khoa học Đất, Công nghệ Sau thu hoạch, Quản lý Tài nguyên và Môi trường:

  • Cung cấp thông số vận hành và thiết kế chi tiết hệ thống thùng ủ compost tĩnh có cấp khí đáy quy mô nhỏ (94 dm³).
  • Cung cấp công thức phối trộn vật liệu hữu cơ độ ẩm cao (rác rau chợ) với vật liệu xơ/hút ẩm (bã mía, than sinh học lõi bắp) nhằm cân bằng C/N và kiểm soát quá trình lên men.
  • Cung cấp quy trình bố trí thí nghiệm chậu khảo sát tỷ lệ thay thế phân đạm vô cơ bằng phân compost trên cây rau ăn lá ngắn ngày.

Câu hỏi thường gặp

1. Công thức phối trộn nào cho hiệu quả tốt nhất trong thí nghiệm ủ phân compost?
Công thức tối ưu là nghiệm thức NT4 ở phương pháp thùng tĩnh có cấp khí (tỷ lệ phối trộn: 70% rác rau + 10% bã mía + 20% than sinh học lõi bắp). Nghiệm thức này đạt hàm lượng đạm tổng số $N_{ts} = 2,50%$, pH = 7,5, chất hữu cơ OM = 60,1%, tỷ lệ C/N = 10,9, đáp ứng tốt 3/4 chỉ tiêu chất lượng và 2/2 chỉ tiêu an toàn vi sinh khảo sát theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.

2. Tại sao phương pháp ủ thùng xoay trong thí nghiệm lại có ẩm độ thành phẩm cao (72,8 - 80,0%)?
Phương pháp thùng xoay tang trống kín dung tích 200 dm³ hạn chế sự thoát hơi nước tự nhiên; đồng thời nguồn nguyên liệu rác rau đầu vào có ẩm độ ban đầu rất cao (62,6 - 81,7%) và lượng phụ gia bổ sung (cỏ voi, bã mía) không đủ khả năng hấp thu toàn bộ lượng nước phát sinh trong điều kiện đảo trộn kín 10 phút/ngày.

3. Khối lượng và tỷ lệ thu hồi compost thành phẩm sau 30 ngày ủ đạt bao nhiêu?

  • Ở Thí nghiệm 1 (thùng xoay): Khối lượng thành phẩm đạt 17,5 - 22,9 kg, tỷ lệ thu hồi khối lượng đạt 35,0 - 46,4%.
  • Ở Thí nghiệm 2 (thùng tĩnh): Khối lượng thành phẩm đạt 5,8 - 8,9 kg, tỷ lệ thu hồi khối lượng đạt 38,4 - 53,0% (cao nhất ở NT5: 53,0% và NT4: 46,9%).

4. Khả năng thay thế phân đạm hóa học của sản phẩm compost trên cây xà lách được ghi nhận như thế nào?
Các công thức kết hợp NT6 (50% compost A + 50% phân hóa học) và NT7 (25% compost A + 75% phân hóa học) cho năng suất lý thuyết đạt lần lượt 1.335,2 $\text{g/m}^2$ và 1.332,5 $\text{g/m}^2$, tương đương về mặt thống kê so với công thức bón 100% phân hóa học (1.292,8 $\text{g/m}^2$). Kết quả này chứng minh phân compost có khả năng thay thế và cắt giảm từ 25% đến 75% lượng đạm hóa học khuyến cáo.


Kết luận

Khóa luận đã xác định được công thức ủ compost tối ưu từ nguồn rác thải chợ đầu mối Bình Điền phối trộn với bã mía và than sinh học lõi bắp (tỷ lệ 7:1:2) theo phương pháp thùng tĩnh có cấp khí đáy. Sản phẩm compost đạt tiêu chuẩn về hàm lượng chất hữu cơ (60,1%), đạm tổng số (2,50%), tỷ lệ C/N (10,9) và an toàn về vi sinh vật hại (E. coli, Salmonella). Thử nghiệm sinh học khẳng định việc bón kết hợp compost với phân khoáng giúp duy trì năng suất xà lách ổn định và giảm thiểu từ 25% đến 75% lượng phân đạm hóa học cần sử dụng.