Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Tổng quan về phân hữu cơ 1. Khái niệm phần hữu cơ Phân hữu cơ là loại phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu hữu cơ, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (Hà Phúc Mich và cs. Phân hữu cơ là loại phân chứa rất nhiều hợp chất dinh dưỡng, thành phần dinh dưỡng trong phân hữu cơ có thể tùy theo loại phân, nhất là ở phân chuồng và phân xanh nhưng đều giống nhau ở chỗ là chứa hàm lượng chất hữu cơ, đạm và kali cao (Nguyễn Thế Đặng và cs.
Phân hữu cơ hay compost là chat mun ôn định từ quá trình phân hủy các chất hữu cơ, không chứa mầm bệnh, không thu hút côn trùng, có thê lưu trữ an toàn và có lợi cho sự phát triển của cây trồng (Nguyễn Văn Phước và Dương Thị Thành, 2005). Theo BNNPTNT phân bón hữu cơ bao gồm hai nhóm: phân bón hữu cơ truyền thống và phân bón hữu cơ công nghiệp. Phân bón hữu cơ truyền thống là loại phân bón có nguồn gốc từ chất thải của động vật hoặc phế phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông lâm thủy sản, phân xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phương pháp ủ truyền thống. Trong nhóm này có thể chia thành 5 nhóm nhỏ là: phân chuồng, phân rác, than bùn, phân xanh và phân hữu cơ khác.
Phân bón hữu cơ công nghiệp là loại phân bón được chế biến từ các nguồn hữu cơ khác nhau dé tạo thành phân bón tốt hơn so với nguyên liệu thô ban đầu. Hiện nay, phân bón hữu cơ công nghiệp chia thành các loại sau: phân hữu cơ, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ sinh học và phân hữu cơ vi sinh. Vai trò của phần bón hữu cơ Hữu co là chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất, quyết định kết cau của đất, độ tơi xốp thoáng khí của đất, quyết định độ thấm nước và gitt nước cua dat, quyét dinh hé dém cua dat, quyét định đến số lượng va khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất. Phân hữu cơ là nguồn cung cấp chất hữu cơ phong phú.
Chất hữu cơ trong đất đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì độ phì nhiêu của đất và do đó giúp sản xuất nông nghiệp bền vững. Ngoài vai trò là nguồn dinh dưỡng thực vật, nó còn cải thiện các đặc tính lý hóa và sinh học của đất. Kết quả của những cải tiến này là đất: (¡) tăng khả năng chống chọi tốt hơn với các áp lực như hạn hán, bệnh tật và độc tinh; (ii) giúp cây trồng cải thiện khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cây; và (iii) tăng khả năng tổng hợp dinh dưỡng qua hoạt động mạnh mẽ của vi sinh vật. Những lợi thế này thể hiện ở việc giảm rủi ro trong trồng trọt, tăng năng suất và giảm chi phí phân bón vô cơ cho nông dan (Misra và cs.
Sử dụng phân bón hữu cơ rất phù hợp với xu hướng thế giới hiện nay, sử dụng tong hợp các loại phân bón hữu cơ và vô cơ dé làm giảm bớt độc hại cho môi trường (Nguyễn Thị Quý Mùi, 2001). Phân hữu cơ không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng cải tạo đất (Đường Hong Dat, 2003). Bón 10 tan/ha phan hữu co chủng loại khác nhau trên dat phèn cho thay cải thiện được pH, giảm ham lượng AI trao đổi, tăng hàm lượng AI, Fe liên kết với chất hữu cơ, tăng thành phần P dễ tiêu (Phạm Thị Phương Thúy và Dương Minh Viễn, 2008). Bón phân hữu cơ làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.
Ngoài ra phân hữu cơ còn làm giảm bớt lượng phân khoáng cần bón, nếu bón 10 tấn phân chuồng/ha có thé giảm bớt được 40 — 50% lượng phan kali (Bùi Huy Hiền, 2014). Phương pháp ủ phần hữu cơ 1.1 Phương pháp ủ nóng (ủ compost) Theo Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, phương pháp ủ nóng được sử dụng nhiều trong sản xuất nông nghiệp vì với phương pháp này chất lượng phân ủ tốt hơn. Các vật liệu ủ được xếp thành các lớp chồng lên nhau, mỗi lớp khoảng 15 — 20 cm trên nền không thấm nước, các lớp nguyên liệu không được nén. Sau khi tạo đống xong thì tưới nước đầy đủ cho toàn bộ đống ủ cho đến khi có đủ âm độ cho tất cả vật liệu bên trong (âm độ thích hợp 45 — 55%).
Sau khi ủ cần kiêm tra nhiệt độ hàng ngày. Nhiệt độ trong đống phân tăng nhanh và đạt 60 — 70°C, sau khoảng 4 - 6 ngày do đồng phân được phân huỷ mạnh khi đó có thé đảo trộn đống ủ. Đáo đồng ủ để đưa những vật liệu từ phía bên ngoài đống ủ vào trong trung tâm va từ trung tâm ra bên ngoài. Đặc biệt chú ý tăng cường lượng oxy giúp quá trình phân hủy phân nhanh hơn.
Đống ủ sẽ được hoàn thành khi phân ủ có màu nâu đen, vật liệu tơi vụn hoàn toàn, có mùi của đất tươi và khi đó nhiệt độ hạ xuống tới 25 — 30°C. Tiến trình này có thé kéo dài 3 tháng tùy theo điều kiện thời tiết.2 Phương pháp ủ nguội Nguyên liệu ủ được rải thành lớp dày 0,3 — 0,4 m, sau đó phân được nén chặt và tưới nước vào lớp phân nhằm đây hết không khí ra khỏi lớp phân. Tiếp tục xếp tiếp lớp phân khác lên và lặp lại như trên đến khi đống phân đạt chiều cao khoảng 1,5 m thì dùng bùn, đất hay rơm rạ phủ kín đồng phân. Do bị nén chặt cho nên bên trong đồng phân thiếu oxy, môi trường trở nên yếm khí, khí cacbonic trong đống phân tăng.
Vi sinh vật hoạt động chậm, bởi vậy nhiệt độ trong đồng phân không tăng cao và chỉ ở mức 30 — 35°C. Dam trong đống phân chủ yếu ở dạng amôn cacbonat, là dạng khó phân huỷ thành amoniac, nên lượng đạm bi mat giảm đi nhiều. Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5 — 6 thang phân ủ mới dùng được.3 Phương pháp ủ hỗn hợp (ủ nóng trước, ủ nguội sau) Đầu tiên nguyên liệu được xếp thành lớp dày 0,8 — 1,0 m không nén chặt, tạo điều kiện dé phân giải trong điều kiện hảo khí, làm nhiệt độ lên cao. Sau 3 — 4 ngày nhiệt độ trong đống phan đạt 60 — 70°C, chất hữu cơ bắt đầu phân giải mạnh thì bắt đầu nén cần thận lớp phân và tưới nước đề đây hết không khí ra khỏi đống phân (Nhiệt độ trong đồng phân hạ xuống chi còn khoảng 30 — 35°C).
Bước tiếp theo, xếp tiếp lớp phân khác lên trên lớp phân nêu trên và làm lại như trên cho đến khi đồng phân cao chừng 2,0 m thì dùng đất, bùn hay rơm rạ phủ kín. Thỉnh thoảng tưới nước (nêu là nước phân hay nước tiêu thì càng tốt) giữ cho âm độ đạt 60 — 70% dé phân chuồng phân giải thuận lợi. Đề thúc day cho phân nhanh ngấu ở giai đoạn ủ nóng, người ta ding một số phân khác làm men như phân tằm, phân gà, vịt. Phân men được cho thêm vào lớp phân khi chưa bị nén chặt.
Ủ phân theo cách này có thê rút ngắn được thời gian so với cách ủ nguội, nhưng phải có thời gian đài hơn cách ủ nóng. Tùy thuộc vào khối lượng đống ủ mà thời gian ủ có thể 45 — 60 ngày là có thể sử dụng. Tình hình sản xuất phân hữu cơ ở Việt Nam Năm 2022, BNNPTNT đã công nhận lưu hành 1.394 sản phẩm phân bón chủ yếu là phân bón không phải khảo nghiệm (1.024 loại, chiếm 73,5%), trong đó 550 loại phân bón vô cơ, 844 loại phân bón hữu cơ. Tính đến hết năm 2022, cả nước có 468 nhà may, cơ sở sản xuất phân bón hữu cơ, tổng công suất thiết kế 4,7 triệu tan, tăng 4,4 lần so với năm 2017.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2021 cả nước có hơn 800 cơ sở sản xuất phân bón. Năm 2022, sau khi rà soát loại bỏ các cơ sở không đạt yêu cầu hoặc do một số doanh nghiệp chủ động ngừng sản xuất rút khỏi thị trường nên còn 792 cơ sở sản xuất, giảm 112 so với năm 2021, trong đó vô cơ có 261, hữu cơ có 161, vô cơ và hữu cơ có 308 (Fameko, 2023). Khái niệm phần compost Phân compost là một loại phân hữu cơ được tạo ra từ việc phân hủy các vật liệu hữu cơ như thức ăn thải, 14 cây, cỏ, rơm, bã cà phê và các vật liệu sinh học khác nhờ sự hỗ trợ của vi sinh vật. Quá trình này quá trình phân hủy sinh học hiếu khí tạo ra một sản phẩm phân hữu cơ giàu dinh dưỡng, tốt cho sự phát triển của cây trồng và cải thiện cau trúc đất.
Phân compost thường chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cây như đạm, lân, kali và các khoáng chất khác. Nó cũng cung cấp một môi trường tốt cho vi sinh vật có ích, như vi khuẩn và nam, giúp cải thiện sự phân hủy vật liệu hữu cơ và tăng cường sự sinh trưởng của cây trồng. Các công nghệ ủ compost Các công nghệ ủ phân compost phô biến hiện nay bao gồm: ủ theo luéng; ủ đống có cấp khí và ủ trong thùng kin theo phương pháp ủ nhanh ¿z-vessel (Henrik, 2017). U theo luống U luống là phương pháp xếp đống hỗn hợp nguyên liệu thành các luống dài gọi là windrow.
Phương pháp này phù hợp với quy mô sản xuất lớn trong các nhà máy. Các luéng này được đảo trộn bằng máy móc và thiết bị chuyên dụng dé cải thiện điều kiện thông khí, giảm âm độ, xáo trộn các phan nóng và nguội của đồng ủ. U đống Ủ đồng có cấp khí là một phương pháp dé cải thiện điều kiện thông khí và giảm tần suất đảo trộn. Khí được cấp từ đáy qua các hệ thống ống đục lỗ.
Đống ủ có thể tạo theo luồng, hở hoặc kín tùy theo điều kiện được trang bị (Henrik, 2017). U compost theo phương pháp in-vessel U compost theo phương pháp in-vesse/ thực chất là ủ compost trong hệ thống kín có kiểm soát. Thùng in-vesse/ có thé cau tao bang kim loại, vật liệu nhựa hoặc các bề bê tông, trong đó có thể kiểm soát được luồng không khí và nhiệt độ, hoạt động trên nguyên tắc như một "lò phản ứng hóa học". Không khí được đưa vào thông qua các ống được lắp đặt trong hệ thống cho phép việc kiểm soát tốt nhất thông số nhiệt độ và ẩm độ.
Phương pháp này có thé áp dụng với nguồn nguyên liệu là chất thải hữu cơ sinh hoạt, bùn thải, chất thải chăn nuôi và các loại phụ phẩm nông nghiệp (Henrik, 2017).