ĐẶT VẤN ĐỀ Khuyết tật là một tình trạng sức khỏe phổ biến của ngƣời cao tuổi và là đối tƣợng cần quan tâm, giúp đỡ của gia đình và cộng đồng. Khuyết tật ảnh hƣởng lớn đến cuộc sống của mỗi ngƣời, liên quan đến chất lƣợng cuộc sống của cá nhân và gia đình. Các khuyết tật do nhiều nguyên nhân gây nên. Trong đó, nguyên nhân do tuổi thọ ngày càng tăng cao dẫn tới giảm các chức năng hoạt động.
Mặt khác, mô hình bệnh tật đang thay đổi nhanh chóng, từ bệnh lây nhiễm sang những bệnh không lây nhiễm, các bệnh này phát sinh phần lớn ở ngƣời cao tuổi. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2004, tỷ lệ khuyết tật trên thế giới của những ngƣời từ 60 tuổi trở lên là 46,1% ở ngƣời có khuyết tật trung bình và nặng, trong đó ngƣời có khuyết tật nặng chiếm 10,2%. Trong khi ở Autralia tỷ lệ khuyết tật của NCT là 10,7% dân số của Autralia và chiếm 35,2% ngƣời Autralian khuyết tật. Tỷ lệ ngƣời khuyết tật cao hơn nhiều trong số những ngƣời ở độ tuổi 80 đến 90 (nhóm tuổi phát triển nhanh nhất trên toàn thế giới) tăng lên 3,9% một năm và dự kiến sẽ chiếm 20% dân số toàn cầu từ 60 tuổi trở lên vào năm 2050 [54].
Tại Việt Nam, kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 có 6,1 triệu ngƣời khuyết tật trong số 78,5 triệu dân thì tỷ lệ khuyết tật là 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên, có khó khăn trong việc thực hiện ít nhất một trong bốn chức năng nhìn, nghe, vận động và tập trung hoặc ghi nhớ. Những ngƣời này đƣợc coi là ngƣời khuyết tật. Cũng từ số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ khuyết tật của NCT là 43,3% so với tổng số NCT. Nếu so với 6,1 triệu NKT Việt Nam thì số ngƣời cao tuổi khuyết tật có 3,3 triệu ngƣời, chiếm tỷ lệ 54,1%, trong đó tỷ lệ nữ khuyết tật chiếm (45,7%), cao hơn tỷ lệ giới nam khuyết tật (39,9%) [24].
NKT gặp nhiều khó khăn cả về kinh tế và xã hội. Họ rất dễ bị tổn thƣơng trên hầu hết mọi mặt của cuộc sống, đặc biệt là những ngƣời khuyết tật nặng. Kết quả phân tích số liệu cũng cho thấy, tình trạng khuyết tật có mối liên quan lớn đến tuổi cao, mà đa số NCT nƣớc ta chƣa có thói quen khám bệnh định kỳ. Vì vậy, khi phát hiện bệnh thƣờng ở giai đoạn muộn, khiến việc chữa trị và phục hồi rất khó khăn, nên nguy cơ dẫn đến khuyết tật ở NCT rất cao.
Điều đáng nói nữa là khả năng 2 và tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT bị khuyết tật, thƣơng tật còn nhiều hạn chế, nhất là NCT ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi. Mặt khác, hệ thống y tế lão khoa ở tuyến cơ sở chƣa đầy đủ, thiếu phƣơng tiện và trang thiết bị phục hồi chức năng cho NKT, đội ngũ cán bộ y tế chƣa đáp ứng nhu cầu để giải quyết các bệnh đặc trƣng ở NCT. Tổng điều tra dân số và Nhà ở năm 2009 là cuộc tổng điều tra dân số lần thứ tƣ đƣợc tiến hành ở Việt Nam, so với ba lần tổng điều tra trƣớc (1979, 1989, 1999) thì đây là Tổng điều tra dân số lần đầu thu thập các thông tin về tình trạng khuyết tật của ngƣời dân. Tuy nhiên, cuộc Tổng điều tra này tập trung chủ yếu ở bốn dạng khuyết tật: mắt, nghe, vận động và tập trung, ghi nhớ mà không bao phủ tất cả các loại hình khuyết tật.
Tổng điều tra dân số 2009 sử dụng khung phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) để xác định tình trạng sức khỏe và khuyết tật [24]. Huyện Tây Sơn, nơi thực hiện nghiên cứu có 15 xã, thị trấn, trong đó 3 xã miền núi, theo niên giám thống kê Bình Định năm 2009, tỷ lệ khuyết tật trong dân số từ 5 tuổi trở lên ở vùng nông thôn huyện Tây Sơn nhƣ sau: khuyết tật mắt 6,7%; khuyết tật nghe 4,2%; khuyết tật vận động 5,8%; khuyết tật ghi nhớ 5. Chƣơng trình can thiệp tại cộng đồng cho ngƣời cao tuổi đƣợc triển khai tại ba xã, trong đó có một xã miền núi. Tỷ lệ ngƣời cao tuổi tại huyện Tây Sơn chiếm gần 15% dân số của huyện nhƣng số liệu điều tra về khuyết tật ở ngƣời cao tuổi chƣa đầy đủ, thu thập khuyết tật (là những khuyết tật nặng).
Câu hỏi đặt ra cho chƣơng trình can thiệp nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống NCT, đặc biệt là NCT khuyết tật của huyện Tây Sơn là: tỷ lệ khuyết tật trong nhóm NCT bao nhiêu? Nhu cầu PHCN trong nhóm NCT hiện nay nhƣ thế nào? Các yếu tố liên quan đến các khuyết tật của họ? Tìm hiểu vấn đề đặt ra, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Tỷ lệ khuyết tật, nhu cầu phục hồi chức năng và các yếu tố liên quan ở ngƣời cao tuổi tại ba xã miền núi huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định năm 2014” Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhất về cung cấp dịch vụ PHCN phù hợp cho NCT khuyết tật 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1. Xác định tỷ lệ khuyết tật của ngƣời cao tuổi ở địa bàn vùng núi huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định năm 2014. Mô tả nhu cầu cần PHCN một số khuyết tật của ngƣời cao tuổi ở vùng núi huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định năm 2014. Xác định một số yếu tố liên quan đến nhu cầu PHCN của NCT khuyết tật ở vùng núi huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định năm 2014.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thông tin chung về ngƣời cao tuổi khuyết tật 1.1 Người cao tuổi Tại Việt Nam: Quốc Hội Ban hành Pháp lệnh ngƣời cao tuổi (4/2000) và Luật Ngƣời cao tuổi (11/2009), quy định: Ngƣời từ 60 tuổi trở lên (không phân biệt giới tính) là ngƣời cao tuổi [22] Khái niệm của Liên hợp quốc (UN): NCT là những ngƣời ≥ 65 tuổi [6] Theo định nghĩa trong luật NKT Mỹ năm 1990 thì ngƣời khuyết tật là ngƣời bị khiếm khuyết về cơ thể hoặc tinh thần, bị hạn chế cơ bản trong một hoặc nhiều mặt sinh hoạt. Những khiếm khuyết ấy có thể bao gồm khiếm khuyết về cơ thể, giác quan, nhận thức hoặc trí tuệ. Những ngƣời bị rối loạn tâm thần và mắc các loại bệnh kinh niên khác nhau cũng có thể đƣợc coi là NKT.
Các khuyết tật có thể xuất hiện trong cuộc đời hoặc có ngay từ lúc sinh ra ở một ngƣời nào đó [41]. Trong nghiên cứu của chúng tôi đối tƣợng nghiên cứu là những ngƣời cao tuổi từ 60 trở lên theo luật ngƣời cao tuổi Việt Nam năm 2009. NKT theo Luật NKT Việt Nam năm 2010 [8], [22]. Nhƣ vậy, đối tƣợng nghiên cứu là: ngƣời cao tuổi khuyết tật.2 Phân loại khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Năm 1980 WHO giới thiệu phân loại Quốc tế về khuyết tật theo ba mức độ: khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật.
Trong cách phân loại theo mô hình Y tế này có các khái niệm cơ bản nhƣ sau: - Khiếm khuyết (Impairment): là tình trạng thiếu hụt hoặc bất bình thƣờng về cấu trúc giải phẩu, chức năng, tâm lý của cơ thể, do điều kiện sức khỏe gây ra. - Giảm khả năng (Disability): do tình trạng khiếm khuyết, dẫn đến sự hạn chế hay thiếu hụt khả năng thực hiện các hoạt động theo cách thông thƣờng mà những ngƣời khác thƣờng làm. 5 Hệ thống phân loại này còn nhƣợc điểm là chƣa thể hiện đƣợc mặt tích cực sự tham gia của ngƣời khuyết tật, không chỉ ra đƣợc yếu tố môi trƣờng làm hạn chế thực hiện hoạt động chức năng của họ. Năm 2002 WHO giới thiệu phân loại Quốc tế ICF: Phân loại Quốc tế ICF dựa vào Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (Intrernational Classification of Functioning, Disability and Health).
Để xác định tình trạng sức khỏe và khuyết tật. Có nghĩa WHO đã đƣa ra một phân loại mới và bổ sung thêm thành phần chức năng và bệnh tật. Sự phân loại chức năng đƣợc cấu thành từ các thành phần bao quát về cấu trúc và chức năng cơ thể, các hoạt động liên quan tới sự tham gia của NKT trong các hoạt động tự chăm sóc bản thân và trong sinh hoạt hàng ngày, mức độ ảnh hƣởng của khuyết tật và các nhân tố về môi trƣờng nhƣ môi trƣờng vật lý, xã hội và thái độ của những ngƣời xung quanh. Các nhân tố cá nhân bao gồm: giới tính, sắc tộc, tuổi, thói quen sinh hoạt, trình độ học vấn và sự hiểu biết xã hội [4],[51],[54].
Mô hình khuyết tật và các yếu tố liên quan theo phân loại của ICF (2002) Tình trạng sức khỏe Cấu trúc và chức Hoạt động Sự tham gia năng của cơ thể Các yếu tố môi Các yếu tố cá trƣờng nhân Nguyên tắc phân loại ICF là sự bình đẳng trong cơ hội. Khung phân loại theo ICF đƣợc tất cả 191 quốc gia thành viên WHO công nhận và sử sụng nhƣ chuẩn quốc tế để mô tả và đo lƣờng tình trạng sức khỏe và khuyết tật ở cấp độ cá nhân và cộng đồng [24],[34]. Phƣơng pháp phân loại này cho phép so sánh giữa các quốc gia trên toàn thế giới và sử dụng trong Tổng điều tra dân số ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam [24]. 6 Tóm lại: Dù mô hình khuyết tật nào, các mô hình này đều đề cập đến khuyết tật ở các cấp độ của cấu trúc cơ thể, con ngƣời và môi trƣờng.
Trong đó yếu tố cấu trúc cơ thể là nguyên nhân nguyên phát gây khuyết tật, yếu tố con ngƣời và hoàn cảnh là nguyên nhân thứ phát gây khuyết tật.3 Phục hồi chức năng: PHCN bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã hội, giáo dục hƣớng nghiệp và kỹ thuật phục hồi để làm giảm tác động, giảm khả năng của khuyết tật, đảm bảo cho NKT có cơ hội bình đẳng để hòa nhập hoặc tái hòa nhập xã hội. PHCN không chỉ huấn luyện NKT thích nghi với môi trƣờng sống mà còn tác động vào môi trƣờng và xã hội tạo nên khối thống nhất cho quá trình hòa nhập của NKT. PHCN là trả lại các khả năng đã bị giảm hoặc mất cho NKT hoặc là giúp họ xử lý tốt hơn với tình trạng khuyết tật của mình trong khi ở nhà và ở cộng đồng [4].4 Đánh giá nhu cầu PHCN của NKT Căn cứ vào các nhu cầu thiết yếu về chức năng và xã hội nhằm đảm bảo độc lập trong sinh hoạt và trong cuộc sống của NKT, WHO đã đƣa ra 23 hoạt động cơ bản trong các lĩnh vực tự chăm sóc; vận động, di chuyển; giao tiếp; và hòa nhập xã hội [4].