CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN TAI LIEU LL. Giới thiệu về ngành Giun tron (Nematoda) 'Giun tròn là những động vật không xương sống thuộc ngành Nematoda. Đây là một trong các nhỏm động vật đa dạng và phong phủ nhất trên hành tính. Sự phong phú và đa dạng của Giun tròn thể hiện cả về số lượng loi, số lượng cá thể cũng như kiểu sống, phân bổ và hệ sinh thái của chúng.
Về số lượng loài Giun tròn hiện được dự đoán sổ tới hàng triệu loài. Về số lượng cá thé thi Giun tròn là nhóm động vật luôn chiếm ưu thể (rung bình cử 10 động vật đa bảo thì có 8-9 thuộc về Giun tròn) [30]. Gian tron ng luôn luôn cô mặt vã chiẳm eu thd tường mới sinh cảnh. Tuy nhiên chỉ tử kh hát mình ra kính hiển vỉ từ thể kỹ 17 và chỉ sau khi tìm thấy hằng loạt Giun tron ki sinh ở thực vật và Giun tròn sống tự do trong đất, nước ngọt và biển thì Giun tròn mới được biết đến như một nhóm động vật quan trong.
iầu hết các nhóm Giun tròn sống tự do, trong đỏ phần lớn chúng sống6 trong trong các thủỷ vực nước ngọt, bấi iễn, tiềm lục địa và ngay cả êáy các dại đương, 'Giun tròn sống tự do dinh dung bằng các loại sinh vật nhỏ như vỉ khuẩn, nắm và tão. Một số dinh dưỡng bằng các chất nền tạo ra do hoạt động phân giải chất hữu cơ. Các loại Giun tròn biển thường có kích thước lớn hơn so với các loài Giun tròn sống ở nước ngọt và đất. Trong chuỗi và lưới thúc ăn Giun tròn là một một mắt xích quan trọng, đặc biệt là vai trò trong việc phân giải các chất hữu cơ thành các thảnh phần cơ bản.
Như vậy khi chuyển hóa một phan các chất hữu cơ này để đình đường, Giun tròn còn giúp. cho việc duy trì các hệ sinh thái hoạt động liên tục và nhanh chóng. Bởi thể, ching được xem là động vật đa bảo sống thành công nhất hành tỉnh. (Cin cử vào môi trường sống.
Giun tròn gồm các nhóm sau. Lở động vật có xương sống. ~ Gian tròn kí sinh trên các loài động vật không xương sống, = Gian trên kí sinh trên thực vật 1g tự do trong đất. i trong các (hùy vực, “Trong các nhóm nói trên, nhóm Giua tròn sống trong môi trường biển chiểm đại da sé và đang được nghiên cửu nhiều.
chủng có thể sống tự do trong nước và trong trằm tích đây hoặc kí sinh trên các động vật biển khác. Lịch sử nghiên cứu Gian tròn “Theo Nguyễn Ngọc Châu (2003), bắt đầu tử các nền văn minh Trung Hoa và Ai trước đây gần 5000 năm. con người đã bắt đẫu biết đến Giun tròn thông qua các đi Mì ác eb A: Tinh UB Wa a Sn ayn ee phải hiện và hiểu biết về Giun trên tập trung ở các trung tâm văn mính cỗ đại ở phương, Đông và vùng Lưỡng Hà nhưng cing về sau thì các phát hiện mới, hiểu biết mới cing chuyển địch sang chău Âu va Bic Mg. Hu hit các loại Gian tròn kỉ sinh ở người và động vật.
do ý nghĩa thực tiễn gắn với đi sống con người và cũng đo chẳng có kích thước lớn mà chúng được phát hiện sớm hơn. Ngược lại. các loại Giua trồn kí sinh thực vậi. kỉ sinh ở côn trùng và hầu hết các nhôm Giun tròn sống tự do trong đất nước đặc biệt Giun tròn biển được biết đến muộn hơn.
Cho đến sau khi O.Leewenhoek chế tạo ra kính hiển vi vào năm 1650, các phát hiện cũng chủ yếu trên các triệu chứng mắc bệnh ở người và động vật có liên quan đến loài Giỏn tròn ký sinh ở người và động vật. Vio năm 1667, Robert Hooke thông báo về một loại Gian lươn trên bột nhâo (Panagretlus redivins ), te gid F-Redi (1684) 44 sogn thio các báo cáo về Giun tronở các động vật cổ xương sống. rong đổ có một số động vật mới như sư tử và cá [29]. Mặc dù có một lịch sử khá lầu đời nhưng các nghiễn cứu về Giun tròn thực sự chỉn muỗi từ năm 1743 khi một giáo sĩ cỏ khuynh hướng khoa học tên là Necdham đã bóc một hạt lúa mỹ bị dị tật, teo lại đưa vảo một giọt nước và kiểm tra dưới kính hiển vi, Ông thực sự bất ngờ khi phát hiện ra vô số các động vật dạng sợi đang chuyển động oÏn vận trong nước mà ðng cho rằng chúng là những động vật nước và chúng có thể được gọi là Gian boặc lươn giống như những con lươn giắm được quan sát khoảng 90 năm trước đó, Phải hiện của ông đã được công bổ vào năm 1745 và cũng chính phát hiện này đã giúp cho con người biết đến Giun tròn như là một loài động vật đa dạng.
nhất trên hành tính. Chúng có mặt trong hầu hết môi trường sắng, “Tử năm 1985 đến nay, Giun tròn học truyền thông với đặc trưng là nghiền cứu ình thấi và sinh thái học đã và đang chuyển sang các lĩnh vực nghiên cứu sâu hơn ở mức độ tế bảo và phân tử với các công cụ hiện đại như kính hiển vi điện tử, kỹ thuật phan ti DNA (PCR, sequencing), Nhung cũng đo sự đa dạng vỀ chủng loài và số lượng, sả th, mỗi tường sinh sống mã việc nghiên cứu Gian trờn luôn luôn là điều mới mẻ cho khoa học nối chung vả cho ngành Giun tròn học nói riêng. Hàng loạt các phát hiện loäi mới. các đặc tính của Giun tròn đã góp phin phong phú thêm cho ngành Giun tron học trên oàn thể giới 124.
Gi tròn sống tự do và ý nghĩa của chúng Hầu hết các nhóm Giun tròn sống tự do trong đất, trong nước ngọt và ở biển. Đây là các nhóm dinh dưỡng bằng vi khuẩn (bacterophagous), ăn nắm (fungiphagous). ăn min how co (omiphagous). Trong nhỏm Giun tròn sống tự do được tách thành hai nhóm sinh thái lớn là nhỏm 'Giun tròn trong đất và nhôm trong nước: ) Gian tồn đất: chủ yêu là các nhốm Gas (rên ăn vĩ khuẩn, nắm, thực vậi (không phải ký snh),n thịt vã ăn mền hữu cơ.
VỀ mặt phân loại Giun tròn đất chủ yêu thuộc các bộ Dorylaimida, Mononchida, Rhabditida, 2) Giun tròn nước: sống trong tng đáy của các thủy nhóm Giun tran nguyên thủy nhất cũng là nhóm sinh thai phong phú vã đa dạng nhi. Ở mỗi trường nước chúng dĩnh dưỡng bằng vĩ khuẩn, có biển (không phải ký sinh). ăn thịt và ăn min how co trong lớp trằm tích. VỀ mặt phân loại.
nhóm sinh thái này bao gồm bảng chục bộ Giun tròn khác nhau thuộc các lớp Enoplia và Chromadoria sống trong mỗi trường nước [30, 32} Gian tròn sống trong mỗi trường nước mặn chiếm từ 60 đến 90% vềsố lượng cá thể động vật đầy cỡ trung bình, với mật độ khoảng 10-10 các thể /mỶ, sinh khối từ 1- 3g/mÌ[12|.Giua trỏn thường được tìm thấy ở lớp trằm tịch bề mặt khoảng Sem đối với Khu vực đây bùn. Ở những khu vực đấy dạng cất thổ đến cát mịn, Giun trờ có thể sông ở độ sâu khoảng vải chục centimet tính từ bÈ mặt nẻn đáy. Phần lớn Giun tròn không cầu nguễn oxy cao rong mỗi trường sống, chúng có thŠ được xem là những sinh ậtky khí không bắt buộc, Vé tinh đa dạng loài, ước tính có khoảng 100 triệu loài Giun tròn b 1. Hon 4000 loài thuộc 40 họ được mô tả ở Châu Au và Nam My (Warwick vi Gee, 1984).
Ở vũng biển Bắc, khoảng 800 loài đã được xác định. Rất nhiều vùng biển còn một số. lượng lớn loài chưa mô tả, Tính đa dạng của Gian trờn biển rất cao, chỉ trong một lượng nhỏ cát biển cũng có thể có khoảng 10 loài. Trong trim tích biển, Giun tròn và.
‹Giáp xác chân chèo là hai nhỏm đứng đầu về số lượng loài. Độ sâu là một ong những. yéu tổ chỉnh ảnh hưởng đến tính đa dạng của loài Giun trồn, trong đó những vùng biển sâu thường số lượng loài Gian tròn cao hơn so với vùng biển nông [12]. Ý nghĩa sinh thái học của Giun tròn.
‘Giun tron sing ty do đồng vai trổ là một mắt xích quan trong trong hệ sinh thải đất, nước. Khi tham gia vào các chu trình biển đỏi sinh thải trong dit, Giun tròn trực tiếp phân hủy mùn và các chất hữu cơ thành chất khoáng mả cảy trồng sử dụng, chúng, cồn án các vỉ khuẩn, nắm, tảo nhỏ và giải phóng nitơ cho đất. Giun trồn cũng lã nguỗn thức ăn cho các loài Giun trồn ăn thịt vã các Động vật không xương sống khác lớn hơn.3, Ý nghĩa trong đánh giá và quản lý mỗi trường Bắt kỷ một sinh vật sống nảo cũng đều có mỗi quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp. đến các thay đổi của môi trường mà chúng sinh sống hay nói cách khác chính môi trường sống đã tác động đến đời sống của sinh vật lâm chúng thay đổi từ tập quản sinh sống.
định cư, cấu trúc tuổi, giới tính, khả năng sinh sản cho đến khả năng thích nghỉ trước những biến động của môi trường. Chính những thay đổi này là cơ sở nhận biết và đánhgiá chất lượng môi trường. Do Giun tròn là nhóm động vật chiểm ưu thể về số loài, số lượng cả thể trong hẳu hết các điểu kiện sinh cảnh, việc thu mẫu đơn giản và chuẩn xúc nên Giun tròn được xem là só nhiễu ưu điểm trong nghiên cứu sử dụng để inh gi chất lượng mỗi trường sinh thải và trong nghiên cứu quan trắc mỗi trường, Mặc dù được biết đến và sử dụng muộn hơn trong đảnh giá và quản lý môi trường, Giun trờn thật sự đã trở thành công cụ đắc lực và đáng tỉn cậy hơn so với việc đã dụng cáo hôi động vật khác; Han thể ữx, cùng Với sự phá kiến của khoă hục thông kẻ, công cụ Giun tra lại khả thị hơn khi nó được hỗ trợ bởi các phương pháp xử lý số liệu hiện đại như chương trình phần mễm thống kẻ PRIMER v6. Đặc tính hình thải và sinh học của Gian trên [30 1.
Đặc tính hình thải của Gian tròn Gian trỏn là những động vật đa bào không xương sắng, có tiết điện cơ thể hình trồn v :ó kích thước cơ thể dài từ 0. Hau hết Giun tròn có dạng hình thoi hoặc hình sợi chỉ và thiết điện ngang của cơ thể tron, thuôn dân tương đối mạnh về phía đầu và phía đuôi. Cơ thể Giun tròn gồm có ba. mình và đuổi.
Mặc dù gọi là đầu nhưng phần này không tách biết hoàn toàn với đường vien co thể và không có não như ở các động vật bậc cao. Thay vào đỏ vùng trước được gọi bằng các tên khác nhau như vùng môi, vùng đầu hoặc đơn giản hơn là. phần trước của eở thể.