Đặt vấn đề Quảng Ninh là một địa bàn được thiên nhiên ban tặng cho nguồn tài nguyên nước dồi dào và phong phú, bao gồm cả nước mặt (nước ngọt, nước mặn) và nước dưới đất. Mạng lưới sông ngòi tại Quảng Ninh là khá dày, tuy nhiên quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là các hoạt động khai thác than đã dẫn đến nhiều lưu vực sông bị ô nhiễm nặng. Bảo vệ môi trường các lưu vực sông đang là yêu cầu bức thiết và đang được quan tâm. Trên địa bàn Huyện Đông Triều, sông Cầm có giá trị lớn đối với việc cung cấp nước cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
Bên cạnh sự tích cực về mặt kinh tế, các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và xã hội. Trong thời gian gần đây có một số dự án, cơ sở sản xuất công nghiệp hình thành dọc hai bên bờ sông Cầm hiện đã và đang xả nước thải vào nguồn nước và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến CLN sông. Việc đánh giá CLN sông Cầm thông qua việc quan trắc CLN và so sánh với Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) đối với nước mặt đang được áp dụng chưa thể hiện được rõ nét các diễn biến CLN theo thời gian, cũng như theo không gian. Phương pháp tiếp cận dựa trên chỉ số chất lượng nước WQI (Water Quality Index) cho phép tổng hợp các thông số CLN thành một chỉ số duy nhất để đánh giá diễn biến chất lượng sông Cầm thay đổi theo thời gian từ năm 2010 đến năm 2013, trên cơ sở đó có thể dự báo cho tương lai.
Việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Cầm tại Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2013 thông qua chỉ số chất lượng nước WQI” là rất cần thiết nhằm đánh giá diễn biến và xác định chính xác mức độ ô nhiễm của sông, từ đó đưa ra các đề xuất với chính quyền địa phương các giải pháp quản lý.Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá diễn biến CLN thông qua chỉ số chất lượng nước – WQI tại sông Cầm, Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2013 và đề xuất một số giải pháp quản lý, giảm thiểu tác động tiêu cực. Mục tiêu cụ thể - Ứng dụng WQI để đánh giá diễn biên CLN sông Cầm. - Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước sông Cầm.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Áp dụng thành thạo các phương pháp để đánh giá CLN vào thực tế cũng như tìm hiểu, áp dụng tốt phương pháp sử dụng chỉ số chất lượng nước WQI vào việc đánh giá diễn biến CLN trong nghiên cứu môi trường. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp vào việc đẩy mạnh đối với việc phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường tại địa phương, cụ thể là lưu vực sông Cầm, Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh với mong muốn ứng dụng công cụ quản lý môi trường mới trong công tác quản lý nhà nước về môi trường. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về nước mặt và ô nhiễm môi trường nước mặt 2.
Khái niệm và vai trò của tài nguyên nước mặt Môi trường: Theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [11]. Nước mặt: Theo Điều 2, Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13: Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo [12].Nước mặt bao gồm các nguồn nước trong các hồ chứa, sông suối. Do kết hợp giữa các dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không khí nên các đặc trưng của nước mặt là: - Chứa khí hòa tan, đặc biệt là oxy; chứa nhiều chất rắn lơ lửng (riêng trường hợp nước trong các ao hồ, đầm lầy chứa chất rắn lơ lửng và chủ yếu ở dạng keo); - Có hàm lượng chất hữu cơ cao, có sự hiện diện của nhiều loại tảo; chứa nhiều vi sinh vật. Vai trò của nguồn nước mặt: - Cung cấp nước cho các hoạt động của con người, cho các nhà máy xử lý nước; - Cung cấp nguồn năng lượng thủy điện, phục vụ tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản; - Tạo môi trường sống cho các vi sinh vật sống dưới nước; - Góp phần điều hòa nhiệt độ, giao thông đường thủy trên sông.
Ô nhiễm môi trường nước mặt Khái niệm: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý-hóa học- sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh học trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: n 4 “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với CLN, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã” [17]. Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
Nguyên nhân ô nhiễm nước: Nước bị ô nhiễm là do sự phú dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được. Kết quả làm cho hàm lượng oxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy lực. • Nguyên nhân tự nhiên: Là do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão.
hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả các xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn. Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hóa chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại của các khu phế thải.
Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ thuật bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hóa chất. Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt.) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái CLN toàn cầu. • Nguyên nhân nhân tạo: Trong hoạt động sống của mình, con người đã thải vào môi trường xung quanh một khối lượng nước bẩn tương đương với khối lượng nước sạch đã được cung cấp. Nước bẩn thải ra từ các khu dân cư, đô thị, thành phố, các nhà máy xí nghiệp v.
có chứa một khối lượng lớn chất bẩn rất đa dạng. Khi nước bẩn chảy vào nguồn nước sẽ làm thay đổi những đặc tính cơ bản của nguồn nước tự nhiên; như thay đổi tính chất cảm quan của nước, làm cho nước có màu, mùi đặc biệt, hoặc thay đổi thành phần hoá học của nước, làm tăng hàm lượng chất hữu cơ, muối khoáng xuất hiện các hợp chất độc hại, hoặc thay đổi hệ sinh vật trong nước, xuất hiện các loại vi khuẩn và virus gây bệnh. Ngày nay, với mật độ dân đô thị ngày càng tăng, chính n 5 phủ và cộng đồng ngày càng quan tâm tới lĩnh vực bảo vệ môi trường, mối liên quan giữa chất lượng môi trường và sức khoẻ ngày càng được hiểu rõ, những tổn thất kinh tế do ô nhiễm nước gây ra cũng được đánh giá chính xác hơn nên đã thúc đẩy cải thiện các biện pháp áp dụng nhằm kiểm soát ô nhiễm [3]. - Từ sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan, trường học,.
chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Nước thải đô thị là nước thải tạo thành do sự góp chung nước thải sinh hoạt, nước thải vệ sinh và nước thải của các cơ sở thương mại, công nghiệp nhỏ trong khu đô thị. - Từ hoạt động công nghiệp: Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải. Hàm lượng nước thải của các ngành công nghiệp này có chứa xyanua (CN-), H2S, NH3 vượt hàng chục lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn. - Từ y tế: Nước thải bệnh viện bao gồm nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm, phòng thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là, rửa thực phẩm, bát đĩa, từ việc làm vệ sinh phòng. cũng có thể từ các hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nuôi bệnh và cán bộ công nhân viên làm việc trong bệnh viện. Điểm đặc thù của nước thải y tế có khả năng lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải được xả ra từ những bệnh viện hay những khoa truyền nhiễm, lây nhiễm.
- Từ hoạt động nông nghiệp: Các hoạt động chăn nuôi gia súc; phân, nước tiểu gia súc, thức ăn thừa không qua xử lý đưa vào môi trường và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác; thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, dưa, vườn cây, rau chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt [12]. Cơ sở đánh giá chất lượng nước và hiện trạng môi trường nước mặt ở Việt Nam 2. Cơ sở đánh giá chất lượng nước Nước sông ngòi, ao hồ chứa nhiều các chất hữu cơ, vô cơ, các loại vi sinh vật khác nhau. Tỷ lệ thành phần của các chất trên có trong một mẫu nước phản ánh CLN của mẫu.
Bố trí những vị trí lấy mẫu, phân tích định tính định lượng thành phần các chất trong mẫu nước trong phòng thí nghiệm là nội dung chủ yếu để đánh giá chất lượng và phát hiện tình hình ô nhiễm nguồn nước. Có ba loại thông số phản ánh đặc tính khác nhau của CLN và thông số vật lý, thông số hóa học và thông số sinh học.