Đặt vấn đề Nƣớc là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trƣờng, là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Tài nguyên nƣớc trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang chịu sức ép nặng nề do biến đổi khí hậu, tốc độ gia tăng dân số, do sự phát triển của các hoạt động kinh tế, đời sống khác có liên quan đến sử dụng nƣớc. Do đó tình trạng ô nhiễm, suy thoái nguốn nƣớc ngày càng trầm trọng. Xã Thiện Kế thuộc huyện Sơn Dƣơng tỉnh Tuyên Quang là nơi có điều kiện tự nhiên, tài nguyên phong phú và đa dạng.
Với tiềm năng khoáng sản giàu có, lƣợng mƣa dồi dào, mạng lƣới thuỷ văn dày đặc, độ che phủ rừng lớn, lực lƣợng lao động trẻ, tình hình chính trị- xã hội ổn định, Thiện Kế là xã có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Sông Phó Đáy thuộc địa bàn xã Thiện Kế là con sông chính cung cấp đầu vào trong sản xuất nƣớc sạch phục vụ đời sống xã hội của xã. Ngoài việc cung cấp nƣớc tƣới cho cây trồng trên địa bàn xã, dòng sông này còn là nguồn nƣớc sạch cho cá khu xí nghiệp.Hiện nay sông Phó Đáy đang bị ô nhiễm nghiêm trọng và phải chịu trận về rác thải và hứng chất thải khác từ các quá trình đô thị hóa, rác thải sinh hoạt,sản xuất kinh tế trên địa bàn xã. Nếu không kịp thời xử ly , sông Phó Đáy sẽ trở thành sông Nhuệ chỉ trong một thời gian ngắn.
Đây đang là một vấn đề đƣợc nhiều sự quan tâm từ các cơ quan quản lý và nhân dân trên địa bàn xã. Xuất phát từ hiện trạng trên và yêu cầu thực tế về đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc của xã, đƣa ra các giải pháp góp phần giảm thiểu ô nhiễm và n 2 chất lƣợng môi trƣờng nƣớc của xã trong thời gian tới. Đƣợc sự đồng của Ban giám hiệu trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - ban Chủ nhiệm Khoa Môi Trƣờng và dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo TS.Phan Thị Thu Hằng, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:“Đánh giá hiện trạnh môi trường nước sông Phó Đáy đoạn chảy qua xã Thiên Kế - huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang” 1. Mục đích của đề tài Đánh giá hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc mặt sông Phó Đáy trên địa bàn xã Thiện Kế - huyện Sơn Dƣơng – tỉnh Tuyên Quang, xác định nguyên nhân gây suy thoái môi trƣờng nƣớc sông và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý môi trƣờng phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng.
Ý nghĩa của đề tài Đề tài cung cấp các thông tin, số liệu về hiện trạng môi trƣờng nƣớc sông Phó Đáy, làm cơ sở cho đánh giá về tài nguyên nƣớc mặt nói riêng và tài nguyên nƣớc nói chung. Yêu cầu của đề tài Đánh giá trung thực, khách quan hiện trạng chất lƣợng nƣớc sông Phó Đáy đoạn chảy qua xã Thiện Kế. Kết quả phân tích thông số hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc mặt sông Phó Đáy so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT. Những kiến nghị đƣa ra phải có tính khả thi với điều kiện ở địa phƣơng.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Vai trò và ý nghĩa của nƣớc với đời sống Nƣớc tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, điều hòa các yếu tố khí hậu, đất đai và sinh vật. Nƣớc là thành phần cấu tạo, là dung môi hòa tan nhiều chất cần thiết cho các hoạt động sống của tế bào, đồng thời nƣớc còn là môi trƣờng của các phản ứng sinh hóa, là môi trƣờng sống của động thực vật thủy sinh. Nƣớc còn đáp ứng những nhu cầu đa dạng của con ngƣời trong sinh hoạt hàng ngày, tƣới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản xuất điện năng và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp.
Vai trò và ý nghĩa của nước với sức khỏe con người Nƣớc cần thiết cho hoạt động sống của con ngƣời cũng nhƣ các sinh vật. Nƣớc chiếm 74% trọng lƣợng trẻ sơ sinh, 55% đến 60% cơ thể nam trƣởng thành, 50% cơ thể nữ trƣởng thành. Nƣớc cần thiết cho sự tăng trƣởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt quan trọng. Muốn tiêu hóa, hấp thu sử dụng tốt lƣơng thực, thực phẩm… đều cần có nƣớc.
Cũng nhƣ không khí và ánh sáng, nƣớc không thể thiếu đƣợc trong đời sống con ngƣời. Trong quá trình hình thành sự sống trên trái đất thì nƣớc và môi trƣờng đóng vai trò quan trọng. Nƣớc tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ thông qua phản ứng: 6CO2 + 12 H2O --> C6H12O6 + 6H2O + 6O2 Trong quá trình trao đổi chất thì nƣớc đóng vai trò trung tâm, nƣớc là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đƣờng cho các muối đi vào cơ thể. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy con ngƣời có thể nhịn ăn trong năm tuần, nhƣng nhịn uống nƣớc không quá năm ngày và nhịn thở không quá năm phút.
Khi đói trong một thời gian dài, cơ thể sẽ tiêu thụ hết lƣợng glycogen, toàn bộ mỡ dự trữ, một nửa lƣợng prôtêin để duy trì sự sống. n 4 Nhƣng nếu cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nƣớc là đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20 – 22% nƣớc sẽ dẫn đến tử vong. Theo nhiều nghiên cứu của viện dinh dƣỡng quốc gia: Khoảng 80% thành phần mô não đƣợc cấu tạo bởi nƣớc, việc thƣờng xuyên thiếu nƣớc làm giảm sút tinh thần, khả năng tập trung kém và đôi khi mất trí nhớ. Nếu thiếu nƣớc, sự chuyển hóa prôtêin và enzym để đƣa các chất dinh dƣỡng đến các bộ phận khác của cơ thể sẽ gặp khó khăn.
Ngoài ra, nƣớc còn có nhiệm vụ thanh lọc và giải phóng những độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đƣờng tiêu hóa và hô hấp một cách hiệu quả. Uống đủ nƣớc làm cho hệ thống bài tiết đƣợc hoạt động thƣờng xuyên, bài thải những độc tố trong cơ thể, có thể ngăn ngừa sự tồn đọng lâu dài của những độc tố gây ung thƣ, uống nƣớc nhiều hàng ngày giúp làm loãng và gia tăng lƣợng nƣớc tiểu bài tiết cũng nhƣ góp phần thúc đẩy sự lƣu thông toàn cơ thể, từ đó ngăn ngừa hình thành các loại sỏi: đƣờng tiết niệu, bàng quan, niệu quản. Nƣớc cũng là một biện pháp giảm cân hữu hiệu và đơn giản, nhất là uống một cốc nƣớc đầy khi cảm thấy đói hoặc trƣớc bữa ăn. Cảm giác đầy dạ dày do nƣớc sẽ ngăn sự thèm ăn và quan trọng hơn là kích động quá trình chuyển hóa, đốt cháy nhanh năng lƣợng calo vừa hấp thu qua thực phẩm.
Nếu mỗi ngày đều đặn uống sáu ly nƣớc thì một năm có thể giảm hai kg trọng lƣợng cơ thể [1]. Vai trò và ý nghĩa của nước trong nền kinh tế quốc dân Trong khu dân cƣ, nƣớc phục vụ cho mục đích sinh hoạt, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Nƣớc đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Đối với cây trồng nƣớc là nhu cầu thiết yếu, nƣớc hòa tan các chất khoáng, tham gia vào quá trình trao đổi chất của cây trồng, ảnh hƣởng đến năng suất cây trồng, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dƣỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất.1: Nhu cầu nƣớc cho sản xuất nông nghiệp Nhu cầu nƣớc Loại cây (m3/ha.000 – 5000 (Nguồn: Báo cáo khoa học môi trƣờng“ô nhiễm nước và hậu quả của nó”, 2009)[1] Nƣớc cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn.
Nƣớc dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lƣợng nƣớc, loại nƣớc khác nhau. Nƣớc góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nếu không có nƣớc thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại.
Hoạt động du lịch cũng gắn liền với nguồn nƣớc. Nƣớc không những đƣợc dùng để cung cấp cho sinh hoạt du lịch ăn, uống, tắm, giặt… mà còn là môi trƣờng tốt để phát triển các loại hình du lịch. Tóm lại, nƣớc có vai trò và ý nghĩa cực kỳ quan trọng, do đó bảo vệ nguồn nƣớc là rất cần thiết cho cuộc sống con ngƣời hôm nay và mai sau [1]. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nƣớc Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi theo chiều hƣớng xấu đi các tính chất vật lý - hóa học - sinh học của nƣớc, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nƣớc trở nên độc hại với con ngƣời và sinh vật, làm giảm độ đa n 6 dạng sinh vật trong nƣớc.
Xét về tốc độ và quy mô ảnh hƣởng thì ô nhiễm nƣớc là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất [8]. Nƣớc bị ô nhiễm là do sự phú dƣỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nƣớc ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lƣợng muối khoáng và hàm lƣợng các chất hữu cơ quá dƣ thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nƣớc không thể đồng hóa đƣợc. Kết quả này làm cho lƣợng ôxy trong nƣớc giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nƣớc, gây suy thoái thủy vực [1].
Nguồn gốc tự nhiên gây ô nhiễm nƣớc. Là do mƣa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão. hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ.
Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nƣớc ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nƣớc ngầm hòa vào dòng nƣớc lớn. Ô nhiễm do đặc tính địa chất của nguồn nƣớc: Nƣớc trên đất phèn thƣờng chứa nhiều sắt, nhôm, sunfat, nƣớc lấy từ lòng đất thƣờng chứa nhiều sắt và mangan, nƣớc vùng núi đá chứa nhiều canxi. Ô nhiễm do mặn, nƣớc mặn theo thủy triều hoặc từ mỏ muối khoáng trong lòng đất, khi có điều kiện hòa lẫn trong môi trƣờng nƣớc, làm cho nƣớc bị ô nhiễm clo, natri. Ô nhiễm nƣớc do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt.) có thể rất nghiêm trọng, nhƣng không thƣờng xuyên và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lƣợng nƣớc toàn cầu [8].