chương 1 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 về giải thích từ ngữ thì Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Khái niệm ô nhiễm nước Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật và các loài hoang dã”. Hay hiểu theo một cách khác thì ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý- hóa học- sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh học trong nước.
Khái niệm chung về nước thải - Quá trình hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người tại các khu đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề tiểu công nghiệp đã làm phát sinh ra các chất thải dưới các dạng rắn và lỏng khác nhau. Nước thải là nước được thải ra môi trường sau quá trình xử dụng trong các hoạt động của con người, có thành phần bị biến đổi và có chứa nhiều chất ô nhiễm. - Theo nguồn gốc, nước thải có thể là hỗn hợp của nước hay chất lỏng có chứa các chất thải từ các hộ gia đình, trường học, khu thương mại hay công nghiệp với nguồn nước ngầm, nước mắt hoặc nước mưa. Nguồn gốc phát sinh nước thải 5 - Nước thải sinh hoạt: là nước thải phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, khu văn phòng, trường học, và những nguồn tương tự vậy được gọi là nước thải sinh hoạt.
Nó có thể bao gồm nước thải từ các xí nghiệp công nghiệp trong trường hợp nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp được thu gom chung một hệ thống. - Nước thải thương mại: nước thải không chứa các chất độc tố, chất nguy hại từ các khu thương mại, có thành phần chính tương tự nước thải sinh hoạt, tuy nhiên cũng có thể có một hoặc một vài chất có nồng độ lớn hơn so với nước thải sinh hoạt. Loại hình nước thải này cũng bao gồm nước thải phát sinh từ các cơ sở dịch vu ăn uống, cơ sở giặt là, cơ sở chăn nuôi gia súc gia cầm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe với điều kiện là không chứa các chất độc tố, chất nguy hại và chất thải công nghiệp. - Nước thải công nghiệp: nước thải phát sinh từ các quá trình sản xuất, thương mại, khai khoáng, các hoạt động tại khu lâm nghiệp, bao gồm nước thải chảy bề mặt và nước thải rỉ từ các khu tiếp nhận rác thải và kho lưu trữ hàng thương mại, công nghiệp và tất cả các loại nước thải khác.
- Nước thải nông nghiệp: Bao gồm các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,. là những nguồn gây ô nhiễm đáng kể. Tổng số các chất thải nông nghiệp xả vào nguồn nước khá lớn, đặc biệt là những vùng nông nghiệp phát triển. Chẳng hạn như nước tiêu, chất thải động vật, nước mưa chảy tràn trên mặt đất.
Cơ sở thực tiễn của đề tài Nước thải sản xuất, chăn nuôi, sinh hoạt và nước thải bệnh viện chưa qua xử lý triệt để chứa nhiều các chất hữu cơ, vô cơ, cặn, kim loại nặng và có mùi khó chịu. Nước thải chưa qua xử lý triệt để thải vào sông sẽ có những tác động nhất định đến chất lượng nguồn nước sông. Các tác động do nước thải chưa được xử lý triết để đến mục tiêu chất lượng nguồn nước mặt bao gồm: Các chất hữu cơ, N và P có trong nước thải sẽ làm tăng khả năng tiêu thụ oxy trong nước, dẫn đến làm nghèo lượng oxy hoà tan. Tải lượng cao của các chất hữu cơ và độ kiềm lớn của nước thải làm tăng độ pH, tăng nhu cầu oxy sinh, hóa của nước, làm chất lượng nước suy giảm.
Màu của chất thải sẽ làm tăng độ màu của nguồn nước tiếp nhận. 6 Mùi của chất thải sẽ làm cho nguồn nước tiếp nhận có mùi khó chịu. Các chất rắn lơ lửng sẽ làm tắc ứ đường dẫn thải, làm tăng độ đục, gây bồi lắng nguồn nước tiếp nhận. Các kim loại nặng có trong nước thải gây tích luỹ kim loại nặng trong nước, gây bồi lắng, đôi khi gây nhiễm độc nguồn nước tiếp nhận.
Nước thải sinh hoạt chứa hàm lượng vi sinh vật cao, gây nhiễm khuẩn nguồn nước tiếp nhận. Các văn bản liên quan - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012. - Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ VII, ngày 23 tháng 06 năm 2014. - Thông tư 12/2014/TT- BTNMT ngày 17/2/2014 ban hành về quy định kỹ thuật, điều tra quan trắc tài nguyên nước mặt.
- Thông tư 26/2012/ TT- BTNMT ngày 28/12/2012 về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc thủy văn. - Thông tư số 21/2009/TT-BTNMT ngày 05/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về định mức kinh tế kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước. - Thông tư số 02/2009/TT- BTNMT ngày 19/3/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước. - Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược Quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020.
- Quyết định số 100/2008/QĐ-TTg ngày 15 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020. - Quyết định số 04/2009/QĐ-UBND ngày 17/6/2009 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc ban hành Quy định quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. 7 - Quyết định số 17/2009/QĐ-UBND ngày 22/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. - QCVN:40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp.
- QCVN: 39:2011/BTNMT về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu. - QCVN: 38: 2011/ BTNMT về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh. - QCVN: 14:2008/BTNMT về nước thải sinh hoạt. - QCVN: 08:2008/ BTNMT về chất lượng nước mặt.
- QCVN: 28:2008/BTNMT về nước thải y tế. - TCVN 6980:2001 về chất lượng nước- nước thải công nghiệp thải vào lưu vực sông dùng cho cấp nước sinh hoạt. - TCVN 6772: 2000 về chất lượng nước - nước thải sinh hoạt giới hạn ô nhiễm cho phép. - TCVN 6663-3: 2008 về kỹ thuật lấy mẫu - bảo quản và xử lý mẫu.
- TCVN 6663-6: 2008 về hướng dẫn lấy mẫu ở sông suối. Tổng quan về ô nhiễm và tác động của xả thải đên môi trường nước sông. Thực trạng ô nhiễm nước sông và kiểm soát các nguồn nước thải ở Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại Sau gần 20 năm mở cửa và đẩy mạnh kinh tế với hơn 64 khu chế xuất và khu công nghiệp, cộng thêm hàng trăm ngàn cơ sở hóa chất và chế biến trên toàn quốc. Hậu quả đi kèm đó là vấn nạn chất thải, các con sông đã gánh chịu áp lực rất lớn.
Có thể thấy từ bắc vào nam tùy theo sự phát triển của từng nơi mà các hệ thống sông bị suy giảm và ô nhiễm trầm trọng như: • Lưu vực sông Cầu: Dân số sống trong khu vực này chiếm khoảng 7 triệu trên 1 diện tích độ 10 ngànkm2. Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng 8 nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu… Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. • Lưu vực sông Nhuệ, Đáy: dân số khu vực chiếm khoảng 10 triệu trên 1 diện tích 7. Là trung tâm kinh tế quan trọng nên lượng chất thải đổ ra lưu vực rất cao nhất là Hà Nội và Hà Tây nơi có nhiều khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề.
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép. Hai hạ lưu có ô nhiễm trầm trọng phải kể đến sông Nhuệ và sông Tô Lịch với hàm lượng hầu như triệt tiêu và vào mùa khô nhiều đoạn sông chỉ là những bãi bùn. Việc kiểm soát ô nhiễm nước là quá trình khó khăn, nên ưu tiên mọi nỗ lực để kiểm soát ô nhiễm nước từ công nghiệp và đô thị triệt để (thông qua hệ thống xử lý hữu hiệu và kiểm soát chặt chẽ giấy phép xả thải) và từng bước hạn chế ô nhiễm diện từ nông nghiệp và nước mưa. Về kiểm soát ô nhiễm nước ở Việt Nam, Chính phủ cần phải ra một Nghị định về kiểm soát ô nhiễm nước riêng, tập trung vào kiểm soát các ô nhiễm điểm đô thị và công nghiệp.
Trong nghị định cần kết hợp tối đa các yếu tố trên nhằm giải quyết một số khu vực ô nhiễm nước trầm trọng theo thứ tự ưu tiên thời gian, tránh hành chính hóa và áp dụng tiếp cận quản lý kết quả. Đã áp dụng ở một vài tỉnh để rút kinh nghiệm và triển khai dần ra các tỉnh khác, cân 9 nhắc và coi hiệu quả thực thi là tiêu chuẩn chính của Nghị định và chất lượng nước sạch là thước đo chính về hiệu quả của Nghị định.