Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu giống Ở nước ta hiện nay, việc phát triển trồng cà chua còn có ý nghĩa quan trọng về mặt luân canh, tăng vụ và tăng năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loại rau ăn quả được khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, sản xuất cà chua ở nước ta chưa phát triển mạnh vì điều kiện khí hậu nóng và ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển, làm giảm năng suất cà chua.
Do những khó khăn của thời tiết như nhiệt độ cao, mưa nhiều, sâu bệnh hại, chất lượng quả kém nên việc tăng năng suất và sản lượng gặp trở ngại. Bởi cà chua là loại cây rất dễ bị sâu bệnh hại, đặc biệt là những bệnh do nấm, vi khuẩn, virus. Chúng gây hại từ giai đoạn cây con trong vườn ươm, giai đoạn trồng ngoài sản xuất cho đến khi thu hoạch (Chu Thị Thơm và cs, 2006)[29]. Bộ giống cà chua được các Viện nghiên cứu và trường Đại học chọn tạo ra khá phong phú.
Ngoài ra, giống cà chua mới còn được một số công ty nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam như Công ty TNHH Trang Nông, Hoa Sen, Sygenta… Tuy nhiên, giống cà chua mới trước khi giới thiệu vào sản xuất đại trà cho từng vùng sinh thái và từng vụ trồng cần phải qua khảo nghiệm. Cơ sở khoa học của nghiên cứu mật độ trồng Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất cà chua. Giải quyết tốt vấn đề mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ sinh trưởng và phát triển của cá thể làm cho quần thể cà chua khai thác tốt khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích. Mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt.
Dưới đất cây cà chua cạnh tranh nhau nước, dinh dưỡng trong đất và khoảng trống trong đất để phát triển bộ rễ. Khi đất không cung cấp đủ cho nhu cầu của cây thì cây sẽ phát triển e 5 kém, ít hoa ít quả và quả sẽ nhỏ. Trên khoảng không gian, để có thể cây lấy được ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác cây sẽ phải tăng trưởng chiều cao một cách tối đa chính vì vậy sẽ làm cho cây yếu, sức chống chịu kém trước các ngoại cảnh. Khi trồng ở mật độ thấp cây sẽ không phải cạnh tranh nhau nhiều, do vậy cây sẽ có điều kiện phát triển tốt cho năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể giảm.Mật độ trồng thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng được tối đa các điều kiện của đồng ruộng từ đó giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó có thể tăng năng suất và tăng sản lượng cũng như tăng hiệu quả kinh tế.
Việc tìm ra một mật độ trồng thích hợp cho cây cà chua để phát huy hết tiềm năng cho năng suất cần phải trải qua một quá trình thí nghiệm cho từng giống và từng vùng sinh thái. Vì vậy, cần nhanh chóng xác định mật độ gieo trồng phù hợp nhất cho từng giống cà chua, ở từng vùng sinh thái nhất định để cà chua có thể sinh trưởng, phát triển tốt và phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống. Nguồn gốc, phân loại và giá trị của cây cà chua 1. Nguồn gốc, phân bố của cây cà chua Nhiều nghiên cứu cho rằng, cà chua có nguồn gốc ở Nam Mỹ và là một trong những cây trồng quan trọng của người Anh Điêng (Kuo C.
Về nguồn gốc cũng có nhiều ý kiến khác nhau song tập trung chủ yếu vào hai hướng: Hướng thứ nhất cho rằng cây cà chua có nguồn gốc từ L.esculentum varpimpine lliforme. Hướng thứ hai cho rằng cà chua Anh Đào (L.esculentum var cerasiforme) là tổ tiên của cà chua trồng ngày nay (Cao Thị Làn, 2011)[17]. Cà chua tồn tại ở Pêru hàng nghìn năm nhưng nó chỉ thực sự được biết đến khi người Tây Ban Nha thám hiểm ra khu vực này vào những thập niên đầu của thế kỷ 16 (Nguyễn Thúy Hạnh, 2018)[14]. Theo tài liệu từ Châu Âu thì người Aztec và người Toltec là những người phát tán cây cà chua đến các châu lục.
Ở châu Âu, sự tồn tại của cà chua được khẳng định thông qua tác phẩm giới thiệu về những giống cà chua có màu vàng và đỏ nhạt được mang về từ Mêhicô của nhà nghiên cứu về thực vật Pier Andrea Matthiolus vào năm 1544 (Trần Khắc Thi, 2003)[33]. Đây cũng là thời điểm chứng e 6 minh sự tồn tại của cà chua trên thế giới. Vào thời gian này, nó chỉ được coi như một loại cây cảnh, cây làm thuốc. Đến thế kỷ 18 đã có nhiều nghiên giúp cho bộ giống cà chua trở nên đa dạng, phong phú hơn và nó đã trở thành thực phẩm ở nhiều vùng.
Vào cuối thế kỷ 18, cà chua được dùng làm thực phẩm ở Nga và đến đầu thế kỷ 19, sau chứng minh của George Washing Carver về sự an toàn và tác dụng của cây cà chua thì nó mới chính thức được sử dụng làm thực phẩm và đã trở thành thực phẩm không thể thiếu ở nhiều vùng trên thế giới. Phân loại Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solanaceae), chi Lycopersicon, có bộ nhiễm sắc thể (2n = 24). Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phân loại của cà chua và lập thành các hệ thống phân loại theo quan điểm riêng của mình như công trình của N. Muller (1940); Dakalov(1941); Bailey-Dillinger (1956); Brezhnev (1955 - 1964) hay của I.Libner Non necke (1989).
Tuy nhiên hai hệ thống được sử dụng nhiều nhất là hệ thống phân loại của Muller (người Mỹ hay dùng) và hệ thống phân loại của Brezhnev (1964). Theo phân loại của Muller thì cà chua trồng hiện nay thuộc chi Eulycopersicon C. Trong chi phụ này tác giả phân cà chua thành 7 loại và cà chua trồng hiện nay (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc loại thứ nhất (Tạ Thu Cúc, 2002)[9]. Giá trị dinh dưỡng của cây cà chua Nhiều nghiên cứu và phân tích thành phần hóa học đã xếp cà chua vào nhóm rau quả dinh dưỡng.
Trong quả cà chua chín có chứa nhiều đường (glucoza, fructoza, saccaroza), các vitamin (A, B1, B2, C), các axít hữu cơ (xitric, malic, galacturonic.) và các khoáng chất quan trọng: Ca, Fe, Mg. Theo phân tích của (Tạ Thu Cúc, 2002)[9]thành phần hóa học của 100 mẫu giống cà chua ở đồng bằng Sông Hồng là chất khô 4,3 - 6,4%; đường tổng số 2,6 - 3,5%; hàm lượng chất tan 3,4 - 6,2%; axít tổng số 0,22 - 0,72%; vitaminC: 17,1 - 38,81%. Điểm quý của cà chua là rất giàu caroten và khả năng dễ hấp thu đối với người sử dụng ở mọi lứa tuổi. Và đặc biệt trong quá trình nấu vitamin C hao hụt rất ít.
Có thể sử dụng cà chua dưới dạng ăn tươi, nấu chín hay đã qua chế biến công e 7 nghiệp. Ở Việt Nam có khoảng 15 món ăn phổ biến được nấu với cà chua hoặc dùng cà chua như là đồ gia vị. Chính vì giá trị của cà chua phong phú như vậy nên nhu cầu tiêu thụ cà chua ngày càng lớn hơn.1 Thành phần hoá học của 100 g cà chua Quả chín tự Nước ép tự TT Thành phần Đơn vị tính nhiên nhiên 1 Nước Gram 93,76 93,9 2 Năng lượng Kcal 21 17 3 Chất béo Gram 0,33 0,06 4 Protein Gram 0,85 0,76 5 Carbonhydrates Gram 4,46 4,23 6 Chất xơ Gram 1,10 0,40 7 Kali Gram 223 220 8 Photpho Mg 24 19 9 Magie Mg 11 11 10 Canxi Mg 5 9 11 Vitamin Mg 19 18,3 12 Vitamin A IU 623 556 13 Vitamin E Mg 0,38 0,91 14 Niacin Mg 0,628 0,67 Nguồn: USDA Nutrient Data Base [48] 1. Giá trị sử dụng của cây cà chua Cà chua là cây rau ăn quả đa dụng: - Có thể dùng ăn tươi thay hoa quả, trộn Salat, sào nấu, nấu sốt vang và cũng có thế chế biến thành các sản phẩm như cà chua cô đặc, tương cà chua, nước sốt nấm, cà chua đóng hộp, mứt hay nước ép.
Ngoài ra, có thể chiết tách hạt cà chua để lấy dầu. - Bên cạnh đó, cà chua có giá trị trong y học. Theo Quách Tấn Vinh (2005)[40], cà chua có vị ngọt tính mát có tác dụng tạo năng lượng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hóa máu có dư axit, hòa tan ure, thải ure, điều hòa bài tiết, giúp tiêu hóa dễ dàng các e 8 loại bột và tinh bột. Dùng ngoài để chữa bệnh trứng cá, mụn nhọt, viêm tấy và dùng lá để điều trị vết đốt của sâu bọ.
Chất tomarin chiết xuất từ lá cà chua khô có tác dụng kháng khuẩn, chống nấm, diệt một số bệnh hại cây trồng. Theo Võ Văn Chi (1997)[12], cà chua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tạo năng lượng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hoá máu có dư axít, hoà tan urê, thải urê, điều hoà bài tiết, giúp tiêu hoá dễ dàng các loại bột và tinh bột. Nhiều nghiên cứu mới đây cho rằng nước sốt cà chua có tác dụng ngăn ngừa bệnh ung thư miệng, đặc biệt các nhà khoa học Anh và Hà Lan đã thành công ki cấy một gen quy định việc tạo ra chất Flavonol, hợp chất cho phép cơ chế cống lại bệnh ung thư và tim mạch (Ralph Bock, 2001)[46]. Giá trị kinh tế của cây cà chua Cà chua là loại rau cho hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu chính của nhiều nước.
Chính vì như vậy, cà chua được trồng với diện tích lớn hơn nhiều so với các loại rau khác. Theo số liệu của FAO, năm 2018, diện tích cà chua trên thế giới là 4,78 triệu ha, sản lượng 177,0 triệu tấn, năng suất 370,0 tấn/ha. Dẫn đầu thế giới về diện tích là Trung Quốc (1.690 ha), Thổ Nhĩ Kỳ (260.000 ha), Ai Cập (195.000 ha) và về sản lượng là Trung Quốc (31.300 tấn), Thổ Nhĩ Kỳ (10.000 tấn) và Ấn Độ (8. Cà chua cũng là một trong những mặt hàng có giá trị xuất, nhập khẩu cao.
Lượng cà chua trao đổi trên thị trường quốc tế năm 2005 là 4,8 triệu tấn, trị giá 4,7 tỷ USD. Các nước xuất khẩu nhiều cà chua là Tây Ban Nha (876.040 tấn), Hà Lan (778.540 tấn) và nhập khẩu nhiều cà chua là: Mỹ (985.530 tấn) và Liên Bang Nga (344. Trong đó cà chua được dùng dưới dạng quả tươi chỉ từ 5 – 7%. Qua đó cho thấy, trên thế giới cà chua được sử dụng chủ yếu là các loại sản phẩm đã qua chế biến.