CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Đào ăn quả là một trong những loại quả ôn đới có giá trị dinh dưỡng cao. Một số nghiên cứu về đào cho thấy trong 100 g thịt quả đào có chứa 0,9 g protein, 1,3 g chất xơ, 0,7 g muối, 7 mg canxi, 20 g phốt pho, 0,8 g sắt và caroten, riboflavin, niacin, vitamin C,. Có thể nói quả đào cung cấp nhiều chất có lợi cho sức khỏe con người.
Đặc biệt, ở Việt Nam canh tác đào ăn quả đem lại hiệu quả kinh tế cao do loại cây này chỉ có thể trồng ở các vùng có khí hậu ôn đới thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên để đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cần phải lựa chọn, tuyển chọn các cây đào tiềm năng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong sản xuất. Cơ sở khoa học của việc tuyển chọn cây đào ưu tú là do quá trình trồng trọt lâu đời trong sản xuất khiến cho các tính trạng của giống đã bị phân ly tạo ra các kiểu hình khác nhau thậm chí là các cá thể biến dị không đem lại hiệu quả trong sản xuất. Một số địa phương người dân chỉ sử dụng hạt làm nguyên liệu nhân giống dẫn đến việc bộ gene của cây đào thay đổi đồng thời số lượng cây biến dị cũng tăng lên, hiện tượng thoái hóa giống xảy ra.
Chính vì vậy, việc điều tra, phát hiện và xác định những cá thể ưu tú có các đặc điểm tốt về năng suất, phẩm chất trong quần thể các giống đào ăn quả nói chung và đào sớm Địa Linh nói riêng là hết sức cần thiết. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên một số loài cây ăn quả đã chứng minh: các chất điều hòa sinh trưởng như GA3, IAA, BA. có thể cải thiện tỷ lệ ra hoa, đậu quả, tránh rụng quả non một cách hiệu quả (Lê Văn Tri, 1998). Để cho cây sinh trưởng, phát triển tốt, cây không những cần các chất dinh dưỡng như protein, lipit, gluxit.
để cấu trúc cơ thể và cung cấp năng lượng, mà còn cần các chất có hoạt tính sinh học như vitamin, enzim, hoocmon., trong đó các hoocmon có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây (Bùi Trang Việt, 2000). Các chất điều hòa sinh trưởng, phát triển n 6 thực vật là các chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau nhưng đều có tác dụng điều tiết quá trình sinh trưởng, phát triển của cây từ khi tế bào trứng thụ tinh phát triển thành phôi cho đến khi cây hình thành cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ và kết thúc chu kỳ sống của mình (Bùi Trang Việt, 2000). Quá trình đậu quả phụ thuộc nhiều vào các điều kiện nội tại và ngoại cảnh hàm lượng auxin, gibberellin và các chất kích thích sinh trưởng thấp trong cây là nguyên nhân dẫn đến sự rụng quả non. Đối với cây đào ăn quả, tuy số lượng hoa nở rất lớn nhưng tỷ lệ đậu quả chỉ đạt từ 10-20%.
Vì vậy, sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng sẽ thúc đẩy quá trình hình thành quả và giữ quả cho tới lúc thu hoạch. Ngoài biện pháp phun GA3 để tăng tỷ lệ đậu quả, còn có các biện pháp kỹ thuật khác để tăng năng suất của cây ăn quả như bọc quả. Trong thực tiễn sản xuất, một số nhà vườn đã áp dụng việc tiến hành bọc quả cho cây ăn quả nhằm giảm thiểu mức độ gây hại của sâu bệnh, thuốc bảo vệ thực vật và các tác nhân vật lý đến quả. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng hữu hiệu quả túi bọc quả trong việc đảm bảo chất lượng của quả ở một số cây ăn quả như ổi, bưởi, na, táo,.
(Nguyễn Tiến Duy & cs. Tuy nhiên người dân còn lúng túng trong việc lựa chọn chất liệu của túi bọc quả do hiện nay trên thị trường chủng loại túi cũng rất phong phú. Có những loại túi có chất liệu từ giấy bên trong có lót lớp dầu chống thấm để ngăn chặn nước mưa thấm vào làm thối quả hoặc loại túi nilong không màu bên trong có lót lớp xốp lưới cũng được nhiều nhà vườn ưa chuộng. Nghiên cứu về các loại túi bọc quả có tác dụng thế nào đến mẫu mã, chất lượng của quả là cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng của đào ăn quả nói riêng và cây ăn quả nói chung.
Nguồn gốc và phân loại Cây đào có tên khoa học Prunus persica Stokes hay Prunus persica (L.) Batsch, thuộc chi Prunus, họ Rosaceae. Phân chi Amygdalus bao gồm các giống đào ăn quả quan trọng về mặt thương mại và cây hạnh nhân. Loài này có nhiều giống khác nhau: vỏ có lông tơ, hạt dóc hoặc hạt dính; vỏ nhắn, hạt dóc hoặc dính (Bretaudeau và Fauré, 1991). Đào có lẽ là cây ăn quả đầu tiên được thuần hóa ở Trung Quốc khoảng 4000 năm n 7 trước.
Các giống đào được trồng ngày nay phần lớn bắt nguồn từ các giống đào có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc, một khu vực có khí hậu tương tự như miền đông nam Hoa Kỳ, một khu vực trồng đào chính. Đào được chuyển đến Ba Tư (Iran) dọc theo các tuyến đường buôn bán tơ lụa. Trên thực tế, chữ persica biểu thị Ba Tư, là nơi người châu Âu nghĩ rằng quả đào có nguồn gốc. Người Hy Lạp và đặc biệt là người La Mã đã truyền bá đào khắp châu Âu và nước Anh bắt đầu từ năm 300-400 trước Công nguyên.
Peaches đến với thế giới mới với các nhà thám hiểm của thế kỷ 16-17, với người Bồ Đào Nha giới thiệu nó với Nam Mỹ và người Tây Ban Nha đến bờ biển phía bắc Florida của Bắc Mỹ. Những người Mỹ bản địa và những người định cư đã phân phối đào trên khắp Bắc Mỹ đến miền nam Canada, và nó được trồng ở 2/3 trong số 48 tiểu bang tiếp giáp ngày nay (Huxley và cs, 1992). Hiện nay đào được trồng nhiều ở các nước Trung Quốc, Hi Lạp, Ý, Mỹ, Úc,… Các giống đào trồng phổ thông hiện nay được chia thành hai loại là đào dóc hạt và đào dính hạt. Cả hai loại này đều có cùi thịt trắng hay vàng.
Thịt quả thường có màu từ trắng tới vàng và mỗi màu sắc lại đem lại hương vị khác nhau. Ví dụ như quả đào có thịt quả màu vàng thường có vị chua, chút chát và kèm theo vị ngọt trong khi thịt quả màu trắng sữa thường ngọt và ít chua. Giống đào có thịt trắng, độ chua nhẹ được trồng nhiều nhất tại Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia châu Á xung quanh, trong khi ở châu Âu và Bắc Mỹ lại trồng trên diện tích lớn giống đào có cùi thịt màu vàng và có vị chua hơn (Huxley và cs, 1992). Đặc điểm thực vật học của cây đào a) Rễ Rễ đào ăn sâu từ 10–50cm dưới lòng đất tuỳ thuộc từng giống và từng loại đất, để hỗ trợ cho cây đứng vững không bị đổ.
Cây đào ít bị đổ khi gặp gió bão do cây thường phân cành sớm và nhiều cành nhỏ cộng lại. Thêm nữa rễ cây cắm sâu và bộ lá nhỏ nhẹ khiến cho cây chắc chắn hơn. Ở một số địa hình đặc biệt như đất mùn hoặc đất đã vôi, cây dễ bị đổ hơn vì đất có tính chất xốp và dễ sụt lún (Trần Thế Tục, 1994). n 8 Một đặc điểm đặc trưng của rễ đào đó là phần nổi trên mặt đất của rễ thường có các mầm ngủ.
Khi gặp điều kiện thích hợp, các mầm ngủ có thể bật mầm mọc thành cây. Từ ưu điểm trên có thể nhân giống đào bằng giâm rễ. Rễ đào thường phát triển theo chiều ngang do đó các mầm ngủ của rễ phần gần sát mặt đất khi gặp điều kiện thuận lợi thường mọc thành cây. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, bộ rễ đào thường phát triển rộng hơn tán cây (Trần Thế Tục, 1994).
b) Thân cành Bình thường khi để mọc tự nhiên, đào thuộc loại cây gỗ nhỡ, thông thường cây gieo hạt có một thân chính và 2 đến 3 thân phụ toả về các phía (cành cấp I). Nếu đào được nhân bằng cành chiết hay ghép số thân phụ sẽ lớn hơn. Cây trung bình cao 3–4 m, tán xoè rộng có nhiều cành nhỏ (Trần Thế Tục, 1994). Hình dáng của tán cây sẽ phụ thuộc vào giống và điều kiện sinh thái từng vùng.
Vùng nhiệt đới tán cây có hình mâm xôi hay chóp nón, cây sinh trưởng khoẻ, cành rậm rạp. Cành của cây đào có thể ra quả nhiều lần trên một cành, nhiều cành vừa là quả vừa là mẹ. Đặc điểm này có ở hầu hết các loài trong nhóm Prunus gồm đào, mơ, mận (Bretaudeau và Fauré, 1991). Ở cây đào, sau khi hoa nở quả có được hình thành hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố đặc biệt là hình dạng và kích thước cành mang quả (đường kính, số lá, chiều dài).
Cũng ít khi phụ thuộc vào tuổi cành. Tuy nhiên những cành ra vào cuối thu năm trước có thể rất nhỏ, 7 tháng đến nhiều năm tuổi, thậm chí ngay cả cành cấp I và cấp II ở cây đào cao tuổi đôi khi cũng ra hoa và đậu quả tốt. Vì vậy để đạt được các điều kiện của canhd trưởng thành hoặc cành quả, cành phải đạt độ chín sinh lý và cũng phải trải qua thời kỳ ngủ đông để đảm bảo có thể ra hoa kết trái tốt. Ở những nước có khả năng thâm canh cao, hình dáng bộ tán cây đào không trở nên quan trọng do cành được uốn nắn và cố định theo các khung đai cứng định sẵn.
c) Lá Nhìn chung lá đào có hình dáng tương đối đồng nhất giữa các loài, hình dáng bầu dục của lá là một đặc trưng hình thái của cây đào. Độ lớn của lá rất khác nhau tuỳ n 9 thuộc vào từng loài và giống, nhìn chung dao động từ 1 cm đến 4 cm (chiều rộng); 5 cm đến 10 cm (chiều dài). Gân lá nổi rõ mép lá có hình răng cưa rõ rệt hoặc không rõ rệt tuỳ từng giống từng loài, đỉnh lá nhọn hoặc tù. Màu sắc lá cũng rất khác nhau tuỳ giống, nhìn chung lá đào có màu đặc trưng: đỏ, tím, xanh, xanh đậm, xanh nhạt.Lá đào thường rụng vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 12 hoặc sớm hơn một chút tùy theo vùng sinh thái (Trần Thế Tục, 1994).
Ở giai đoạn kiến thiết cơ bản của một số vùng trồng có điều kiện nóng ẩm, lá bị rơi vào trạng thái rụng không triệt để, lá vẫn đeo trên cành có màu xanh vàng. Sau khi những lá này rụng hẳn thì mới bật lộc mới.