Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở của để tải “Chương 2. Đặc điểm cầu tạo và nguồn gốc của từ ngữ nghề sen ở tỉnh Đồng Tháp, “Chương 3. Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề sen ở tỉnh Đồng Tháp.
TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CUU VA CO SO LY THUYET CUA DE TAL 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp Cho dén nay, trong hệ thống vốn từ tiếng Việt, địa hạt từ ngữ nghề nghiệp chưa được chú ý nhiều. Trong lịch sử nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp có thể hình dung theo "hai hướng sau: Hướng nghiên cứu đầu tiên phải kể đến công trình N.
Tu (1986) khi trình bày đặc điểm hệ thống từ vựng tiếng Việt đã đề cập đến từ nghề nghiệp. Tuy nhiên, ông chỉ trình bảy khái quát về từ nghề nghiệp, chưa đi sâu nghiên cứu một lớp từ nghề nghiệp cụ thể nào. Trong công trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, D. Cl (1981) cũng đã có những nghiên cứu về từ nghề nghiệp.
Sau khi đưa ra khái niệm về từ nghề nghiệp, tác giả đã nêu ra đặc điểm hoạt đông, phạm vi sử dụng và vai trò của từ nghề nghiệp. “Từ nghề nghiệp chẳng những cân thiết cho sự giao tiếp trong từng ngành nghệ thủ công hiện nay đang tồn tại với các ngành sản xuất công nghiệp tương, ứng lại sẵn sảng chấp nhận các thuật ngữ khoa học biển chúng thành từ nghề nghiệp “để "hiện đại hóa" mình" 'Khi nghiên cứu từ vựng tiếng Việt, N. Giáp (1999) coi từ nghề nghiệp được. xem xét với tư cách là một lớp từ được phan x: ra theo tiêu chí phạm vỉ hoạt động và sit dung.Chừ, CS (1992) cũng đã đề cập đến từ nghề nghiệp và phân biệt từ nghề nghiệp ví các lớp từ ngữ khác như: thuật ngữ, từ địa phương, tiếng lồng.
“Từ nghệ nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biển trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó.) Lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít quen như: nghề làm giấy, làm đỗ gồm. làm sơn mài, nghề đúc đẳng, nghề chải lưới”. 6 các công trình lo: này, các nhà nghiên cứu không đi sâu tìm hiểu từ nghề nghiệp mà chỉ tìm hiểu từ nghề nghiệp về mặt khái niệm, xác định đặc điểm, đề xuất các tiêu chí phân biệt chúng với từ ngữ toàn «din và với các lớp từ khác, chưa nghiên cứu sâu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh, ngữ nghĩa của từ nghề nghiệp. Hướng tiếp cận thứ hai với các bài nghiên cứu, các dé tài điều tra, các luận văn.
thạc sĩ, luận án tiến sĩ về từ ngữ của một số nghề nghiệp cụ thể đã được thực hiện, được công bé trên các tạp chí chuyên ngành, trong các hội thảo khoa học. Các công trình nghiên cứu theo hướng này đã chỉ ra những đặc điểm cụ thể của từ ngữ nghề nghiệp, cũng như xem xét từ nghề nghiệp trong mối quan hệ với văn hoá chung của công đồng dân tộc Việt Nam. Đó là đề tài khoa học cita céc tie gi N. Các bài viết, các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn luận án đã được công bồ trên đã nghiễn cứu từ ngữ.
nghề nghiệp của một số nghề cụ thể theo hướng: thu thập, thống kê, phân loại từ ngữ nghề nghiệp, tìm hiểu mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ địa phương, từ toàn dân, thuật ngữ, khảo sát đặc điểm cấu tạo, định danh, nguồn gốc của từ ngữ nghề nghiệp. Tình hình nghiên cứu về nghề sen và từ ngữ nghề sen ở Đằng Tháp Việc nghiên cứu về cây sen ở Đồng Tháp đã được chú trọng và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Họ tìm hiểu vấn đề này ở phạm vi hẹp trong một số công trình thuộc các ngành nghiên cứu như: &ÿ thuật, văn hóa, kinh tế, sinh học, y học. Từ góc độ nông nghiệp, có khá nhiều bài viết nghiên cứu về cây sen, cụ thể trong cuốn Kỹ thuật trồng sen của tác giả N.
Tuyên (2008) trình bày lịch sử về cây sen, đưa ra những kỹ thuật canh tác giống sen, nhân giống sen, các nhu cầu về môi trường sống như đất, thời tiết, chất lượng nước của cây sen. Hoang với ĐỀ tài Dinh giá hiệu quả mô hình canh tác sen trong bối cảnh biển đổi thí ‘du ở huyện Tháp Mười tỉnh Đẳng Tháp cũng khẳng định lợi ích của việc canh tác sen là mô hình nông nghiệp khá mới mẻ, lý tưởng nhất mang tính bền vững và thích ứng. với điều kiện và cuộc sống của người dân huyện Tháp Mười. Từ góc độ kinh tế, với công trình nghiên cứu của PGS TS.Hién (2017) “Tiềm năng và giải pháp phát triển cây sen Đẳng Tháp” cũng chỉ ra tiềm năng giá trị kinh tế của cây sen tại Đồng Tháp.
Nó là loài cây rắt phủ hợp với cl đất Đồng Tháp. “Từ cây sen có thé tạo ra nhiều sản phẩm, thực phẩm, được phẩm. mang lại nguồn thu nhập khá lớn cho người ng và người chế biến sen. Ngoài ra, bài viết còn đưa ra những hướng nghiên cứu về việc phát triển chuỗi giá trị cây sen từ giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ sau thu hoạch, đa dạng hóa sản phẩm sen, kênh phân phối và thị trường tiêu thụ sản phẩm từ sen.
Ở góc độ văn hóa, các tghiên cứu ý nghĩa, vai trò của cây sen trong đời sống tâm linh của người Việt nói chung và người Đồng Tháp nói riêng. Sen là biểu tượng thiêng liêng cao quý cho vẻ đẹp tim hin con người Việt thanh cao, tỉnh khiết, luôn vươn lên trong mọi nghịch cảnh, bùn lầy của cuộc sống đời thường. Sen còn mang ý nghĩa biểu tượng cho Phật giáo hay còn là biểu trợng cho sự thanh cao, một đời vì dân vì nước của Bác Hồ.P Luân (2018) với bài viết “Khai thác giá trị của văn hóa ẩm thực từ sen trong hoạt động du lịch Đẳng Tháp ” không chỉ khẳng định am thực từ sen mang giá trị văn hóa sâu sắc mà còn đặt ra câu chuyện, giá trị vô hình về cây sen. Từ giá trị văn hóa của cây sen, luận văn còn nghiên cứu về sự hình thành, phát triển và mỗi liên hệ giữa nghề sen ở Đồng Tháp trong việc làm nên đặc trưng tư duy, văn hóa về sen.
Từ đó bổ sung cho sự đa dạng, phong phú của ngôn ngữ nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung, "Từ góc độ nghiên cứu y học, các nhà nghiên cứu đã cho thấy cây sen là loài cây có giá trị nhiều mặt. Tắt cả các bộ phận của cây sen đều được sử dụng làm thuốc. Từ củ sen, lá sen, hạt sen, tìm sen, hoa sen,. đều có tác dụng tốt cho sức khỏe của con người như thanh nhiệt, an thần, thông lạc máu huyết.
'Từ góc độ nghiên cứu về công nghệ thực phẩm, chúng tôi nhận thấy nổi bật với công trình nghiên cứu của N. Thu (2018) với đề tài *Nghiền cứu da dang héa sản phẩm hạt sen nước đường đóng hộp” cho thấy hạt sen có giá trị dinh dưỡng cao, có. thể đa dạng hóa trong chế biến món ăn để phục vụ nhu cẩu của người tiêu dùng. 'Qua các góc độ nghiên cứu gắn với một số công trình tiêu chúng tôi nhận thấy: các tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu vào các đặc điểm sinh hóa, thổ nhưỡng, kỹ thuật canh tác, cách thức chế biến, giải pháp phát triển.
nhằm nâng cao chất lượng trồng và chế biến cây sen. Việc nghiên cứu từ ngữ nghề sen từ góc độ ngôn ngữ học để thấy đặc điểm về cấu tạo, đặc điểm nguồn gốc và đặc điểm định danh của hệ thống từ. ngữ nghề nghiệp này là vấn đề chưa được để cập tới. T các đề tài trên đều có giá trị khi nghiên cứu về cây sen ở nhiễu lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau.
Nhưng nó cũng cho thấy hiện chưa có công trình nảo nghiên cứu một cách toàn diện, đẩy đủ và có hệ thống về từ ngữ nghề sen ở Đồng Tháp với tư cách là một lớp từ nghề nghiệp trong tiếng Việt. Do vậy, những kết quả nghiên cứu về cây sen mà các công trình trên đạt được sẽ là một trong những tiền đề, công cụ góp phần giúp luận văn triển khai đề tài “Từ ngữ về nghệ sen ở tỉnh Đồng Tháp”. Cơ sở của để tài 1. Những vấn đề chung về từ và ngữ tiếng Việt 1.
Những vẫn đề chung về từ tiéng Viet a. Quan niệm về từ tiếng Việt 'Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng dành sự quan tâm đặc biệt trong. việc nghiên cứu về từ.Thản (1962) quan niệm: “7ừ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra khỏi đơn vị khác của lời nói dé vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh vẻ ngữ âm, ý nghĩa (từ vụng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp”. ‘Con nhóm tác giả M.
Chit, CS (1992) cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu”.Giáp (1995) trong công trình *Dẫn luận ngôn ngữ học” cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập vẻ hình thức và ý nghĩa ”. Ngoài ra, khi nghiên cứu đối tượng là từ, Ð. Châu (1981) đã nêu lên những đặc điểm của từ: “có hình “hức ngữ “âm và ngữ nghĩa; có tính có sẵn, có định, bắt buộc; là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ (. ) là đơn vị lớn nhắt của hệ thống ngôn ngữ, nhưng lại là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu.
là đơn vị trực tiếp nhỏ nhắt đề tạo câu. Từ nhận xét này, ông đưa ra định nghĩa từ của tiếng Việt: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định. bắt biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cầu tạo nhắt định, tắt cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhắt định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhắt để đạo câu ”. Đây là định nghĩa về từ được nhiều người chấp nhận, chỉ ra được đặc điểm.
khái quát cơ bản của từ là: vấn đề khả năng tách biệt của từ (tính độc lập của từ) ; vấn đề tính hoàn chỉnh của từ (từ có vỏ âm thanh hoàn chỉnh, có nội dung). Chúng tôi dựa vào định nghĩa từ của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho nghiên cứu của luận văn. Các kiểu cầu tạo từ tiếng Việt Trong tiếng Việt, “các yếu tổ cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất. sức là những yếu tổ không thé phan chia thành những yắu tổ nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa.