Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông Chương 3: Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông 8 n Chương1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm từ, ngữ và phương thức cấu tạo từ 1. Quan niệm về từ Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Do xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn không giống nhaunên các nhà nghiên cứungôn ngữ học có những quan niệm chưa thống nhất “từ”về.
Theo Đỗ Hữu Châu (1981) định nghĩa:“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [10, tr. Tác giả Nguyễn Kim Thản(1984) quan niệm:“Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức n ngữ pháp” [44, tr. Trong khi đó,Nguyễn Thiện Giáp (1985), “từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa… Trong tiếng Việt, mỗi từ là một âm tiết” [19, tr. Sở dĩ có tình trạng phức tạp và khó thống nhất ý kiến giữa các nhà nghiên cứu trong quan niệm về từ như vậy là vì bản thân các từ rất khác nhau về nhiều mặt.
- Về kích thước vật chất, các từ có kích thước lớn nhỏ không giống nhau. - Về cấu trúc và tổ chức trong nội bộ từ, các kiểu loại không giống nhau. - Về nội dung và cách thức biểu thị, giữa các từ với nhau cũng không giống nhau. 9 n - Về năng lực và chức phận khi đi vào hoạt động ngôn ngữ (như: các chức năng ngữ pháp, đảm nhận các vai trò làm thành phầ câu, các chức năng ngữ nghĩa, ngữ dụng,…trong quá trình tham gia tạo câu…) các từ lại càng không giống nhau.
Do có nhiều quan niệm khác nhau và cũng không đi sâu bàn luận định nghĩa về từ, do vậy chúng tôi đồng tình với quan điểm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1998): “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu” [9, tr. Với định nghĩa vừa nêu, từ có hai đặc điểm cần lưu ý: + Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa: Từ có hình thức phổ biến là một chiết đoạn âm thanh nhỏ nhất, đồng thời có nghĩa (dùng để gọi tên các sự vật hiện tượng, các thuộc tính, các quan hệ. trong thực tiễn đời sống). + Từ được sử dụng độc lập, tự do trong lời nói dùng để tạo câu: Từ có thể tách biệt khỏi các đơn vị khác (khác với các từ khác, cụm từ .) và được dùng theo các quy tắc nhất định để tạo nên câu.
Những đặc điểm trên giúp phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt với yếu tố cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhưng không dùng trực tiếp để đặt câu); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không nhỏ nhất). Như vậy, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại hiển nhiên sẵn có trong mỗi hệ thống ngôn ngữ với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có thể có cách biểu thị nội dung ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ trị giác (hiện thực về mặt tâm lý). Ví dụ: từ của nghề rèn như: đập, búa, nắn,. Như vậy, từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hoàn chỉnh cả về ngữ âm và về ngữ nghĩa.
Đặc điểm trên giúp ta phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt với hình vị - yếu tố cấu tạo nên từ; phân biệt từ với cụm từ và câu là các đơn vị lớn hơn nó. Quan niệm về ngữ 10 n Cũng như từ, ngữ (còn có những tên gọi khác như cụm từ, đoản ngữ, ngữ đoạn, từ tổ… ) là đối tượng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo… Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý [57, tr176 ]: “Ngữ là sự kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan”. Về cấu tạo, ngữ là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp chi phối hay liên hợp. Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là các thành tố phụ.
Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tao nên ngữ danh từ), động từ (tạo nên ngữ động từ), tính từ (tạo nên ngữ tính từ). Về chức năng và đặc điểm: Cũng giống như từ, ngữ cũng là phươngtiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng. Ngữ thường chia thành hai kiểu: Ngữ tự do (cụm từ tự do) và ngữ không tự do (ngữ/cụm từ cố định).
+ Ngữ tự do/Cụm từ tự do: Bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ. Mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh hoạt và có sức sản sinh. + Ngữ không tự do/Ngữ cố định/Cụm từ cố định: Tính độc lập về mặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của ngữ cũng trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt. 11 n Thay vì bàn luận phân tích sâu về kháingữniệm,chúng tôi chọn quan niệm của tác Nguyễn Tài Cẩn(1998) : “đoản ngữ là một tổ hợp từ tự do có ba đặc điểm a) Nó gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thànhquaytố phụ quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt nghĩa: b) Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết râ khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quanchínhhệ phụ.
c) Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc điểm ngữ pháp của” [trung9, tâm tr. Các phương thc phương 0]. Do quan niệm về “từ” có sự khác nhau ở các nhà ngôn ngữ học, chúng tôi chọn quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn về các kiểu cấu tạo từ để tiến hành khảo sát hệ thống từ ngữnghề rèn Đa Sỹ ở Hà Đông. Theo tác giả, dựa vào số lượng tiếng, từ tiếng Việt có từ đơn và từ ghép.
“Từ đơn chỉ gồm một tiếng nên làm thành một đơn vị đơn giản” [9, tr. Từ ghép là “một đơn vị phức hợp, có tổ chức nội tại: trong từ ghép bao giờ cũng có thể tìm ra ít nhất là hai tiếng được kết hợp với nhau theo một loại quan hệ này hay quan hệ nọ” [9, tr. Theo đó, nếu ghép hai hay nhiều tiếng lại với nhau theo quan hệ ngữ nghĩa gọi là từ ghép nghĩa (gồm từ ghép láy nghĩa và từ ghép phụ nghĩa); theo quan hệ ngữ âm gọi là từ láy âm; không dựa trên cơ sở quan hệ ý nghĩa, cũng không dựa trên quan hệ ngữ âm gọi là từ ghép ngẫu hợp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc xác định ranh giới giữa hai đối tượng từ ghép và cụm từ cố định là rất khó rành mạch.
Chẳng hạn như: dao cầu thái thuốc Bắc, dao chặt thép nhíp Nga, dao làm lòng gà vịt,…là từ hay là ngữ. Những đơn vị như trên đều có chức năng định danh, gọi tên sự vật, phân biệt sự 12 n vật. Về lí thuyết, từ được xem là đơn vị có kết cấu chặt chẽ, còn ngữ (trừ thành ngữ) thì đều có kết cấu lỏng lẻo. Tuy vậy, trong thực tế, từ và ngữ định danh kết cấu chính - phụ đều mang tính chỉnh thể định danh về nghĩa (đều gọi tên một đối tượng nhằm khu biệt với cá thể khác cùng loại, tạo nên nghĩa biệt loại), điều đó làm cho việc phân biệt từ với ngữ định danh rất khó khăn.
Đây là vấn đề rất phức tạp, chúng tôi không đi sâu bàn về ranh giới đâu là từ, đâu là ngữ mà theo cách phân loại sắp xếp thông dụng của từ điển. Nghĩa là, được xem là từ là những đơn vị định danh (bao gồm cả cụm từ cố định có nghĩa tương đương với từ về định danh). Những đơn vị này sẽ được chúng tôi thống kê vào bảng từ như cách làm của các nhà ngôn ngữ xếp vào danh mục từ điển, còn những đơn vị là cụm từ tự do có nghĩa theo dạng miêu tả thì không. Do vậy, chúng tôi xem những kiểu cấu tạo như những ví dụ trên là ngữ.
Mặt khác, để tiện cho việc nghiên cứu và theo thói quen, chúng tôi gọi những từ ghép láy nghĩa là từ ghép đẳng lập và từ ghép phụ nghĩa là từ ghép chính phụ, từ láy âm là từ láy, từ ghép ngẫu hợp là từ ngẫu hợp. Như vậy, từ sẽ có bốn loại kiểu cấu tạo: từ đơn, từ ghép (ghép đẳng lập và ghép chính phụ), từ láy và từ ngẫu hợp. Khái niệm từ ngữ nghề nghiệp 1. Khái niệm Như đã biết, lao động là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp “con người cá nhân” thành“con người xã hội”.
Để tồn tại, phát triển và đáp ứng nhu cầu cuộc sống, con người phải mưu sinh, lao động, tìm nghề, lựanghềchọn và học nghề. Đây là cơ sở xã hội để hình thành nên một lớp từ ngữ của n người làm nghề riêng biệt phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy. Lớp từ ngư đó cũng tạo nên dấu ấn nghề nghiệp-từngữ nghề nghiệp. 13 n Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp (hay tiếng nghề nghiệp, từ vựng nghề nghiệp) nói chung, quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp nói riêng đã được các tác giả trong nước và nước ngoài quan tâm.
Quan niệm từ ngữ nghề nghiệp của các tác giả nước ngoài L.