Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Công thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế (năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Thế Hà. Công trình thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số 9.21).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thơ Việt Nam mười năm đầu sau chiến tranh (1975-1985) được xác định là giai đoạn bản lề, đánh dấu bước chuyển từ thời chiến sang thời bình, từ khuynh hướng sử thi - dân tộc sang khuynh hướng đời tư - thế sự, từ giọng điệu ngợi ca, hào hùng sang giọng trầm lắng với những chiêm nghiệm nhân văn và đạo đức đời thường. Tuy nhiên, trước đây tồn tại hai luồng quan điểm đối lập trong giới nghiên cứu: một số ý kiến cho rằng thơ giai đoạn này không có nhiều giá trị do vẫn vận động theo quán tính sử thi của giai đoạn 1945-1975; trong khi nhiều công trình khác chỉ khảo sát lướt qua chặng đường này nhằm làm nổi bật thành tựu của giai đoạn Đổi mới từ năm 1986 trở đi. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác định giai đoạn 1975-1985 là một chu kỳ vận động nghệ thuật trọn vẹn, có quy luật nội tại riêng, đóng vai trò gạch nối lịch sử và chuẩn bị tiền đề trực tiếp cho sự đổi mới của thi ca Việt Nam hiện đại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án hướng tới các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Xác định và làm rõ sự vận động của cảm hứng thẩm mỹ, tư duy sáng tác, phương thức tiếp cận hiện thực và các phương thức nghệ thuật mới trong thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985.
  2. Khẳng định quá trình nhận thức lại và nhận thức mới về đề tài chiến tranh cũng như cuộc sống thời bình; chỉ ra sự biến đổi của ngôn từ, thể loại và hình tượng cái tôi trữ tình theo yêu cầu tự thân của đời sống xã hội hậu chiến.
  3. Phác họa diện mạo, đánh giá khách quan thành tựu và chỉ ra những giới hạn của thơ giai đoạn 1975-1985 thông qua việc khảo sát hệ thống tác gia, tác phẩm tiêu biểu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm, tập thơ tiêu biểu của nhiều thế hệ nhà thơ xuất bản trong mười năm đầu sau chiến tranh (1975-1985). Luận án khảo sát các tập thơ của thế hệ tiền chiến như Xuân Diệu (Hồn tôi đôi cánh), Huy Cận (Đất sau mưa, Ngày hằng sống ngày hằng thơ), Chế Lan Viên (Hái theo mùa, Hoa trên đá), Tế Hanh (Con đường và dòng sông); cùng lực lượng sáng tác thời kỳ chống Mỹ và sau năm 1975 như Bằng Việt (Khoảng cách giữa lời), Hữu Thỉnh (Âm vang chiến hào in chung, Đường tới thành phố), Xuân Quỳnh (Lời ru trên mặt đất, Sân ga chiều em đi, Tự hát), Ý Nhi (Đến với dòng sông, Người đàn bà ngồi đan), Thanh Thảo (Dấu chân qua trảng cỏ, Những người đi tới biển, Khối vuông ru-bích), Nguyễn Duy (Ánh trăng), Nguyễn Khoa Điềm (Ngôi nhà có ngọn lửa ấm), Nguyễn Trọng Tạo (Gương mặt tôi yêu, Sóng nhà đêm biếc in chung, trường ca Con đường của những vì sao), Vũ Quần Phương (Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Chân trời sau chân trời), Lê Thị Mây (Những mùa trăng mong chờ, Tặng riêng một người), Lâm Thị Mỹ Dạ (Bài thơ không năm tháng, Đề tặng một giấc mơ), Y Phương (Tiếng hát tháng giêng), Võ Văn Trực (Trăng phù sa), Đinh Thị Thu Vân (Thay cho lời hát ru), Lê Thị Kim và Nguyễn Nhật Ánh (Thành phố tháng Tư), tập thơ của các tác giả dân tộc thiểu số (Núi mọc trong gương), Thu Bồn (Bazan khát, Oran 76 ngọn), Nguyễn Đức Mậu (Sư đoàn).
  • Phạm vi nghiên cứu: Các bình diện thuộc về tư duy nghệ thuật thơ gồm hệ đề tài, cảm hứng thẩm mỹ và các phương thức thể hiện (điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian và thời gian nghệ thuật).
  • Phạm vi thời gian: Căn cứ chủ yếu vào các ấn phẩm xuất bản trong khung thời gian 1975-1985. Do tính chất chuyển tiếp, phạm vi khảo sát có tính tương đối, mở rộng liên hệ đối chiếu với một số tác phẩm sáng tác trước năm 1975 nhưng in trong giai đoạn này, hoặc sáng tác trong giai đoạn 1975-1985 nhưng xuất bản sau năm 1985 có cùng hệ hình tư duy.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án tổng thuật tình hình nghiên cứu theo hai trục chính: các nghiên cứu chung về diện mạo thơ thời kỳ sau 1975 và các nghiên cứu riêng về từng tác gia, tác phẩm cụ thể.

Các hướng nghiên cứu chung

  • Về tiến trình lịch sử và diện mạo thể loại: Các công trình tập thể và chuyên khảo gồm Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận (Phan Cự Đệ chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (nhiều tác giả, 2005), Văn học 1975-1985 tác phẩm và dư luận (Vân Trang, Hoàng Ngô, Bảo Hưng, 1997), Thơ Việt Nam hiện đại (Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ, 2002), Một số vấn đề cơ bản của lý luận và thực tiễn văn học Việt Nam (Tôn Phương Lan và Vũ Văn Sỹ đồng chủ nhiệm). Các công trình này định vị giai đoạn 1975-1985 là chặng khởi động của văn học hậu chiến, ghi nhận sự chuyển dịch từ ý thức cộng đồng sang ý thức cá nhân.
  • Về sự vận động của cái tôi trữ tình: Vũ Tuấn Anh trong Nửa thế kỷ thơ Việt Nam chỉ ra độ chênh giữa cảm hứng ngợi ca và thực tế đời sống, phân tích cái tôi tiếp tục âm hưởng sử thi và đối thoại với sử thi. Mã Giang Lân (Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Thành tựu thơ Việt Nam thời hậu chiến 1975-1985) nhận định về sự bừng tỉnh của cái tôi cá nhân đa diện, xuất hiện mô típ "tôi một mình, tôi suy tư triết lý". Nguyễn Văn Long (Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường, 2009) phân tích bốn khuynh hướng thơ sau 1975 và chỉ rõ sự chuyển biến từ hình tượng nhà thơ "thiên sứ, truyền lệnh" sang nhà thơ "thảo dân" giữa đời thường. Lê Lưu Oanh (Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, 1998) khảo sát ba dạng thức: cái tôi sử thi, cái tôi đời tư - thế sự và cái tôi có xu hướng hiện đại chủ nghĩa.
  • Về giọng điệu và hình thức nghệ thuật: Nguyễn Đăng Điệp (Văn học Việt Nam sau 1975 - Một cái nhìn toàn cảnh, Giọng điệu trong thơ trữ tình) ghi nhận hiện tượng thơ "hạ tông", chuyển từ chất giọng ru vỗ, ngọt ngào sang giọng điệu lý trí, thô ráp, nhận thức thẳng vào mặt trái cuộc chiến. Vũ Văn Sỹ (Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1995, Mạch thơ trong nguồn thế kỷ, Thơ 1975-1995, sự biến đổi của thể loại) phân tích sự phân hóa thái độ thẩm mỹ và biến đổi cấu trúc thể loại. Phạm Quốc Ca (Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000) khảo sát 1.144 bài thơ trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000, chỉ ra xu thế tự do hóa hình thức khi thể thơ tự do chiếm tỷ lệ cao nhất. Đỗ Lai Thúy (Thơ như là mỹ học của cái Khác) tiếp cận từ góc độ các hệ hình tư duy tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại để giải thích sự chuyển dịch nghệ thuật hậu chiến. Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Lê Hồ Quang, Nguyễn Thiên Lan, Lã Nguyên, Bích Thu, Nguyễn Việt Chiến.

Các nghiên cứu riêng về tác gia và tác phẩm

  • Nguyễn Duy: Chu Văn Sơn định danh Nguyễn Duy là "thi sĩ thảo dân" gắn với văn hóa làng quê; Nguyễn Quang Sáng nhận xét về sự kết hợp giữa tư duy thơ hiện đại và hình thức cổ điển phương Đông. Luận án nhận định các bài viết này chưa đi sâu vào tập thơ Ánh trăng (1984) như một mốc mở đầu cho sự đổi mới thi pháp của ông.
  • Thanh Thảo: Bích Thu, Nguyễn Thụy Kha, Lại Nguyên Ân, Đông Hải tập trung nghiên cứu tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ (1979) và Khối vuông ru-bích (1985), đánh giá nỗ lực phác họa tinh thần người lính trẻ và cấu trúc thơ đa tầng.
  • Nguyễn Khoa Điềm: Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Trọng Tạo, Vũ Quần Phương, Thanh Thảo khảo sát bước chuyển từ trường ca Mặt đường khát vọng sang tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), ghi nhận sự dịch chuyển từ hành động nhập cuộc sử thi sang suy tư nội tâm tĩnh lặng.
  • Hữu Thỉnh: Hồ Thế Hà phân tích hệ thống biểu tượng gắn với các cổ mẫu Đất, Lửa, Nước, Không khí và khả năng tạo sinh nghĩa của ngôn ngữ trong thơ Hữu Thỉnh.
  • Vũ Quần Phương: Vũ Nho, Lê Thiếu Nhơn, Thu Hằng, Phạm Khải chỉ ra đặc điểm tư duy thơ trí tuệ, khuynh hướng "nhìn vào tâm tưởng", tự vấn và sự cân bằng giữa tình cảm và duy lý trong tập Chân trời sau chân trời (1985).
  • Các cây bút nữ: Hồ Thế Hà nghiên cứu "thiên tính nữ" qua ba dạng thức cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh; phân tích sự tương tác giữa hiện thực và nghiệm sinh triết lý trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ (qua Bài thơ không năm tháng, Đề tặng một giấc mơ - với hơn 23 bài phê bình được ghi nhận). Vũ Quần Phương, Nguyên Ngọc, Bích Thu, Hoàng Vũ Thuật đánh giá tập thơ Tặng riêng một người của Lê Thị Mây với đặc trưng tư duy biểu tượng ấn tượng. Các nghiên cứu về tập Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi cũng được tổng hợp.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu đặt mười năm 1975-1985 trong mối liên hệ phụ thuộc: hoặc xem là quán tính kéo dài của thơ chống Mỹ, hoặc chỉ xem là bước đệm chuẩn bị cho công cuộc Đổi mới sau năm 1986. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát thơ 1975-1985 như một chỉnh thể độc lập, một chặng đường có quy luật vận động nội tại, chỉ ra sự chuyển đổi toàn diện từ tư duy nghệ thuật, hệ đề tài, cảm hứng thẩm mỹ đến phương thức biểu hiện.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết thi pháp học và lý thuyết tư duy nghệ thuật thơ:

  • Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật: Vận dụng quan niệm triết học và mỹ học của Lại Nguyên Ân (150 thuật ngữ văn học), Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học) và Nguyễn Bá Thành (Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam). Luận án khu biệt tư duy logic (hướng tới cấu trúc bản chất trừu tượng) và tư duy nghệ thuật/tư duy hình tượng (triển khai bản chất thông qua hệ thống hiện tượng cảm tính, trực quan).
  • Bản chất tư duy nghệ thuật thơ: Tiếp thu các luận điểm của Nguyễn Bá Thành, Nguyễn Thái Hòa, Lê Hồ Quang và Hồ Thế Hà. Tư duy nghệ thuật thơ được xác định là một dạng tư duy ngôn từ mang tính đặc thù, bị chế ước bởi thế giới quan, nhân sinh quan của chủ thể sáng tạo và bối cảnh văn hóa - xã hội. Luận án khảo sát sự chuyển hóa giữa tư duy hướng ngoại (sử thi) sang tư duy hướng nội (đời tư - thế sự) qua các yếu tố: cái tôi trữ tình, thi tứ, thi ảnh và thi ngôn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu văn học:

  1. Phương pháp thống kê, phân loại: Khảo sát tần suất xuất hiện của các hình tượng, thể thơ, từ ngữ, mô típ nhằm cung cấp luận cứ thực chứng cho các nhận định lý thuyết.
  2. Phương pháp loại hình: Nghiên cứu thơ theo đặc trưng thể loại, theo dõi sự vận động của các thể thơ (trường ca, thơ tự do, thể thơ truyền thống) và các dạng thức trữ tình (trữ tình công dân, trữ tình thế sự, trữ tình đời tư).
  3. Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh thơ giai đoạn 1975-1985 với thơ giai đoạn 1945-1975 và giai đoạn sau 1986; đối chiếu giữa các thế hệ nhà thơ và giữa các phong cách tác giả tiêu biểu.
  4. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các mối quan hệ giữa bối cảnh lịch sử và tác phẩm; xâu chuỗi các yếu tố cấu thành văn bản thơ để đúc kết thành các luận điểm khái quát về diện mạo thời kỳ.

Nguồn dữ liệu khảo sát

Dữ liệu khảo sát là toàn bộ các tác phẩm thơ tiêu biểu của các tác giả thuộc nhiều thế hệ sáng tác trong mười năm 1975-1985, cùng số liệu thống kê thể loại từ các tuyển tập thơ chuyên ngành.

Tiêu chí Dữ liệu và tác giả tiêu biểu được khảo sát trong luận án
Thế hệ tiền chiến Xuân Diệu (Hồn tôi đôi cánh), Huy Cận (Đất sau mưa, Ngày hằng sống ngày hằng thơ), Chế Lan Viên (Hái theo mùa, Hoa trên đá), Tế Hanh (Con đường và dòng sông).
Thế hệ kháng chiến chống Mỹ và sau 1975 Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố), Thanh Thảo (Dấu chân qua trảng cỏ, Khối vuông ru-bích), Nguyễn Khoa Điềm (Ngôi nhà có ngọn lửa ấm), Xuân Quỳnh (Tự hát), Nguyễn Duy (Ánh trăng), Ý Nhi (Người đàn bà ngồi đan), Lâm Thị Mỹ Dạ (Bài thơ không năm tháng), Lê Thị Mây (Tặng riêng một người), Vũ Quần Phương (Chân trời sau chân trời).
Số liệu thống kê thể thơ (trích dẫn tư liệu Phạm Quốc Ca) Khảo sát 1.144 bài thơ trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1975-2000: Thơ tự do chiếm 645 bài (tỷ lệ 56%), phần còn lại thuộc về lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ và các thể thơ truyền thống cải tiến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu về thơ giai đoạn 1975-1985 theo hai mảng:

  • Những nghiên cứu chung: Đánh giá đóng góp của các chuyên luận nghiên cứu văn học thế kỷ XX và văn học sau 1975. Luận án phân loại các quan điểm nghiên cứu thành hai xu hướng: một bên nhấn mạnh tính quán tính của thơ chiến tranh; một bên khẳng định sự chuyển tiếp hợp quy luật của ý thức nghệ thuật.
  • Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm: Khảo sát các bài viết phê bình về từng gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Vũ Quần Phương.
  • Đánh giá khoảng trống: Tác giả chỉ ra rằng đa số công trình chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảm hứng hoặc phân tích lẻ tẻ từng tác phẩm; chưa có công trình nào khảo sát chuyên biệt, có hệ thống về bản chất của "tư duy nghệ thuật thơ" trong toàn bộ thập niên bản lề này.

Chương 2. Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ và diện mạo thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ và làm sáng tỏ bối cảnh chi phối sự hình thành diện mạo thơ:

  • Khái niệm: Xác định tư duy nghệ thuật thơ là hoạt động tinh thần có tính đặc thù nhằm sáng tạo và tổ chức thế giới nghệ thuật ngôn từ, phản ánh quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ của người nghệ sĩ.
  • Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới: Đất nước bước ra khỏi chiến tranh đối mặt với thực trạng đổ nát, khó khăn kinh tế gay gắt, hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, cùng những khuyết điểm của cơ chế hành chính quan liêu bao cấp trước thềm Đại hội Đảng lần thứ VI (1986). Thực tế đời sống bộn bề đã phá vỡ sự giản đơn của cái nhìn sử thi một chiều, đặt ra nhu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy văn học.
  • Diện mạo thơ: Lực lượng sáng tạo là sự đồng hành của nhiều thế hệ nhà thơ. Bên cạnh sự tiếp tục của các nhà thơ tiền chiến, thế hệ nhà thơ trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ giữ vai trò nòng cốt. Hiện tượng bùng nổ thể loại trường ca giai đoạn này (Những người đi tới biển, Đường tới thành phố, Sư đoàn, Bazan khát...) là bước ngoặt giúp các tác giả tổng kết, chiêm nghiệm lại cuộc chiến tranh bằng cái nhìn trải nghiệm cá nhân trước khi thơ chuyển hẳn sang mạch đời tư - thế sự.

Chương 3. Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 nhìn từ hệ đề tài và cảm hứng thẩm mỹ

Chương 3 phân tích sự chuyển dịch của tư duy thơ thông qua ba cụm đề tài và cảm hứng chủ đạo:

  • Đề tài chiến tranh với cảm hứng ngợi ca, tự hào và ân nghĩa: Chiến tranh không còn được miêu tả thuần túy qua các khúc khải hoàn mà được nhận thức lại với độ lùi thời gian. Thơ đi sâu vào những mất mát, hy sinh, số phận cá nhân của người lính và nỗi đau của những người mẹ, người vợ hậu phương. Cảm hứng tự hào gắn liền với ý thức ân nghĩa, đạo lý uống nước nhớ nguồn.
  • Đề tài hậu chiến với cảm hứng hòa hợp, tin yêu và khát vọng: Phản ánh chân thực cuộc sống đời thường ngổn ngang, nhọc nhằn của những năm đầu hòa bình; ghi nhận những trăn trở, lo toan của con người trước gánh nặng mưu sinh, đồng thời biểu đạt khát vọng hòa hợp dân tộc và niềm tin vào sự hồi sinh của đất nước.
  • Đề tài tình yêu với cảm hứng giao hòa, yêu thương và dâng hiến: Tình yêu trong thơ không còn bị hòa tan vào tình yêu Tổ quốc như giai đoạn trước mà trở về với tính chất bản thể riêng tư. Xuất hiện những biểu đạt đa chiều về hạnh phúc, sự bất an, trắc trở, chia ly và những khát khao gắn kết, chở che, đặc biệt rõ nét trong sáng tác của các tác giả nữ (Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây).

Chương 4. Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 nhìn từ phương thức thể hiện

Chương 4 khảo sát các phương diện thi pháp học cấu thành hình thức biểu hiện của tư duy thơ:

  • Điểm nhìn nghệ thuật: Di chuyển từ điểm nhìn sử thi - hướng ngoại (nhìn từ trên cao, từ cộng đồng, hướng về sự kiện vĩ mô) sang điểm nhìn đời thường - hướng nội (nhìn từ cự ly gần, soi chiếu vào nội tâm, khám phá các vỉa tầng vô thức, tiềm thức và thân phận cá nhân).
  • Ngôn ngữ và giọng điệu: Ngôn ngữ thơ chuyển từ tính trang trọng, thuần khiết, ngợi ca sang ngôn ngữ đời thường, giàu khẩu ngữ, mang tính tự bạch và chất liệu văn xuôi. Giọng điệu hào hùng, lãng mạn nhường chỗ cho giọng điệu triết lý, tự vấn, trầm tư và đối thoại.
  • Không gian và thời gian nghệ thuật: Không gian sử thi rộng lớn gắn với chiến trường, địa danh lịch sử được bổ sung bằng không gian đời tư, không gian sinh hoạt hàng ngày (góc bếp, căn phòng, sân ga, con đường) và không gian tâm tưởng. Thời gian nghệ thuật biến chuyển từ thời gian lịch sử một chiều tuyến tính sang thời gian đa chiều kích: thời gian tâm trạng, thời gian hồi tưởng quá khứ đan xen với hiện tại và những dự cảm về tương lai.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

  1. Về mặt lý luận: Làm rõ mô hình vận động của tư duy nghệ thuật thơ trong tương quan giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ ở một thời kỳ lịch sử đặc thù; chứng minh sự đổi mới của thi ca bắt nguồn từ sự chuyển đổi trong chiều sâu tư duy chứ không thuần túy là sự thay đổi hình thức hay kỹ thuật câu chữ.
  2. Về mặt thực tiễn lịch sử văn học: Đánh giá toàn diện và khách quan diện mạo thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985; khẳng định đây là một chu kỳ vận động nghệ thuật độc lập có quy luật riêng, vượt qua nhận định phiến diện coi giai đoạn này chỉ là quán tính đơn thuần của thơ chiến tranh.
  3. Về giá trị tiến trình: Xác lập vị trí cầu nối của thơ mười năm hậu chiến; chỉ ra các mầm mống đổi mới về điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ và cấu trúc thể loại trong giai đoạn 1975-1985 chính là tiền đề trực tiếp cho sự đổi mới mạnh mẽ của thơ Việt Nam sau năm 1986.

Kiến nghị khoa học: Luận án đề xuất giới nghiên cứu lịch sử văn học cần có cái nhìn biện chứng và công bằng khi phân định các giai đoạn văn học, không nên lấy tiêu chí chính trị - xã hội thay thế hoàn toàn cho quy luật nội tại của thể loại, đồng thời cần đưa các tác phẩm thơ tiêu biểu giai đoạn này vào chương trình giảng dạy đại học một cách thỏa đáng hơn.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi thời gian mang tính quy ước tương đối (1975-1985), một số tác phẩm sáng tác trong thời kỳ chiến tranh nhưng xuất bản muộn, hoặc sáng tác trong giai đoạn hậu chiến nhưng đến sau năm 1985 mới được ấn hành (như tập Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của Nguyễn Khoa Điềm, Khối vuông ru-bích của Thanh Thảo) buộc phải khảo sát kết hợp, gây ra những chồng lấn nhất định về mặt niên đại tư liệu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án định hướng mở rộng nghiên cứu đối sánh diện mạo tư duy thơ giai đoạn 1975-1985 với toàn bộ tiến trình thơ thời kỳ Đổi mới (sau 1986), đồng thời khảo sát thêm sự tương tác giữa thơ trong nước và thơ Việt Nam ở hải ngoại trong cùng khung thời gian để hoàn thiện bức tranh văn học hậu chiến.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, cũng như giảng viên giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học và cao đẳng.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Chương tổng quan tài liệu (Chương 1) cung cấp thư mục và lược thuật chi tiết các công trình nghiên cứu thơ ca hậu chiến tại Việt Nam.
    • Khung lý thuyết về tư duy nghệ thuật thơ (Chương 2) có thể ứng dụng làm phương pháp luận cho việc phân tích các thể loại văn học khác trong giai đoạn chuyển tiếp.
    • Các phân tích cụ thể về hệ thống thi pháp (điểm nhìn, giọng điệu, không gian - thời gian ở Chương 4) cung cấp cứ liệu khoa học để thẩm bình các tập thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Vũ Quần Phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án xem giai đoạn 1975-1985 là giai đoạn bản lề của thơ Việt Nam hiện đại?
Luận án xác định đây là chặng đường quá độ từ thời chiến sang thời bình. Thơ ca giai đoạn này hoàn tất nhiệm vụ tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ (thông qua thể loại trường ca), đồng thời bắt đầu chuyển dịch tư duy từ khuynh hướng sử thi - cộng đồng sang khuynh hướng đời tư - thế sự, tạo tiền đề trực tiếp cho công cuộc Đổi mới sau năm 1986.

2. Thể thơ nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong thơ giai đoạn sau 1975 theo số liệu được luận án dẫn dụng?
Dựa trên khảo sát của Phạm Quốc Ca trong Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000 được luận án trích dẫn, thể thơ tự do chiếm tỷ lệ cao nhất với 645/1.144 bài (chiếm 56% ngữ liệu khảo sát), phản ánh rõ nét xu hướng tự do hóa về mặt hình thức câu thơ.

3. Sự thay đổi về giọng điệu thơ giai đoạn 1975-1985 thể hiện cụ thể ra sao?
Giọng điệu ru vỗ, ngọt ngào, âm hưởng ngợi ca hào sảng của thời chiến được thay thế bằng giọng điệu hạ tông, gần gũi với đời thường, gia tăng tính duy lý, thô ráp, tự vấn và chiêm nghiệm triết lý trước những phức tạp của cuộc sống hậu chiến.

4. Điểm nhìn nghệ thuật trong thơ có bước chuyển dịch như thế nào?
Điểm nhìn nghệ thuật có sự chuyển dịch từ điểm nhìn sử thi - hướng ngoại (nhìn từ tầm vóc cộng đồng, hướng về các sự kiện lịch sử lớn) sang điểm nhìn đời thường - hướng nội (quan sát con người ở cự ly gần, đi sâu vào thế giới nội tâm cá nhân, những ẩn ức và thân phận con người).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Công đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ sự vận động của tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 trên cả bình diện nội dung cảm hứng và phương thức thể hiện. Bằng việc kết hợp lý thuyết thi pháp học và phương pháp loại hình, công trình khẳng định vị trí độc lập và tính quy luật nội tại của mười năm thơ hậu chiến trong tiến trình hiện đại hóa thi ca dân tộc. Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo có giá trị tư liệu và học thuật đối với việc tiếp cận lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX.