Chương 1: Giới thuyết về mối quan hệ giữa truyền thuyết va di tích Chương 2: Mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và đền Sơn Hải Chương 3: Ý nghĩa của truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần tại đền Sơn Hải 14 PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1. GIỚI THUYET VE MOI QUAN HỆ GIỮA TRUYEN THUYET VA DI TICH 1. Một số thuật ngữ liên quan đến dé tài 1. Tín ngưỡng Chủ nghĩa Mác - Lên coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
Angghen đã khang định: “Moi tồn giáo chang qua là sự phản ánh hư ảo vào trong dau 6c của con người - của những lực lượng bên ngoài chỉ phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu tran thé” Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học thì “Tin ngưỡng là niêm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điêu gi đó và thông thường dé chỉ một niém tin tôn giáo ” Theo Đào Duy Anh, tín ngưỡng là: “lòng ngưỡng mộ, mê tín với một tôn giáo hoặc chủ nghĩa” [1] Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tô chức đời song cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tô chức cộng đồng. Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tô chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức tô chức đời sống cá nhân quan trọng.
Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường. tín ngưỡng trở thành tôn giáo. Ở xã hội Việt nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyền thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó — mới 15 có những mam mống của của những tôn giáo như thé - đó là đạo Ông Bà, đạo Mau, phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phat, Đạo, Ki tô giáo. đã được du nhập va đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như Cao Đài, Hòa hảo mới xuất hiện.” Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người thực thé, lực lượng siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái trần tục, hiện hữu mà có thể sờ mó, quan sát được.
Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tôn giáo, tín ngưỡng, tức là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy niềm tin vào “cái thiêng” thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần - tư tưởng, đời sông tình cảm.” [9; tr 13] Trong nghiên cứu “Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cố truyền Việt Nam” PSG.TS Nguyễn Trinh Nguyên có đưa ra nhận định về tin ngưỡng: “Tín ngưỡng là một hình thái biểu thị đức tin, niềm tin của con người và của cộng đồng người ở một trình độ phát triển xã hội và nhận thức nhất định vào một thái thiêng liêng, cái cao cả, cái đáng sung kính trong thế giới người hoặc thế giới siêu nhiên nao đó” [14; tr3] Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã nêu rõ “Tin ngưỡng là niém tin của con người được thể hiện thông qua những nghỉ lễ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thong để mang lại sự bình an về tinh than cho cá nhân và cộng đồng. ” Nói tóm lại, tín ngưỡng là những gi gắn liền với tính thiêng và biểu thị niềm tin của con người, gắn bó với con người trên mọi phương diện đời sống. Tin ngưỡng được thể hiện thông qua việc thực hành nghỉ lễ trong đời sống xã hội và có môi quan hệ mật thiệt với tôn giáo.
Tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng dân gian là dùng đề chỉ loại hình tín ngưỡng đã có từ lâu đời, tồn tại trong đời sống của nhân dân; trong đó có một số tín ngưỡng tiêu biểu như: tin ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ sinh thực khí, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ thổ thần. Nhìn chung tín ngưỡng dân gian chính là nơi thê hiện niềm tin của con người, đó là sự hy vọng, cầu xin về một cuộc sống bình an, no đủ và hạnh phúc. Tuy nhiên, hiện nay, giống như nhiều lĩnh vực khoa học việc phân loại tín ngưỡng tôn giáo còn có nhiều ý kiến khác nhau: có ý kiến cho răng phân định như tiến trình lịch sử có nghĩa giống như trong văn học có văn học dân gian và văn học đương đại thì tín ngưỡng cũng thê phân chia như vậy, nhưng việc phân chia như vậy có thực sự đúng không vì tín ngưỡng chính là những gì có thé cố kết con người trong xã hội cả trước đây, hiện tại và sau nay. Tuy nhiên cách phân loại tôn giáo theo hình thái học đã khang định tín ngưỡng chính là của một cộng đồng người Bên cạnh thuật ngữ “tín ngưỡng dân gian”, nhà nghiên cứu Nguyễn Minh San còn gọi với một tên gọi khác là “Tín ngưỡng dân dã”.
Theo quan điểm của ông: “Tín ngưỡng dân đã là sản pham văn hoá của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội. Trải qua trường kì lịch sử, bao biến thiên của xã hội, bao lần tiếp xúc và giao lưu văn hoá cùng dâu bể của cuộc đời, các tín ngưỡng của người Việt nói chung vẫn luôn vận động, bám sát cuộc sống, phát triển cũng cuộc sống. Nhiều lớp văn hoá khác nhau đã tích hợp hoặc chồng lấp lên nhau trong một loại hình tín ngưỡng” [12] Hiện có nhiều cách hiểu và cách dùng thuật ngữ khác nhau nhưng tựu trung lại thì tín ngưỡng dân gian được hiểu là loại hình tín ngưỡng có lich sử lâu đời, nó đóng vai trò quan trong trong việc có kết cộng đồng, ra đời và phát sinh từ rất sớm trong xã hội, tôn tại ở nhiêu dạng tuy nhiên chủ yêu có sức sông mạnh mẽ trong 17 cộng đồng làng xã, có khả năng thay đổi và biến thiên theo lịch sử, đời sống, hoàn cảnh. Quan trọng là tín ngưỡng dân gian thường gắn liền với các sinh hoạt văn hoá, phong tục, tập quán, lối sống, của một cộng đồng người.
Di tích Theo từ điển Bách Khoa: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cô học, sử học. Di tích là di sản văn hóa — lich sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dich chuyền, thay đôi, phá hủy” [2; tr. Theo luật Di sản văn hoá Quốc hội ban hành năm 2001 và sửa đôi, bố sung Luật DI sản văn hoá 2009 quy định: “Di tích lịch sử - văn hoá là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học” Như vậy, có rất nhiều khái niệm liên quan đến di tích lịch sử - văn hoá nhưng tựu chung đều khang định: di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Truyền thuyết Nhóm tác giả Lê Quý Đôn trong công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam” bước đầu định nghĩa truyền thuyết là: “Truyền thuyết là tất cả những câu chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bản.
Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một mặt đặc điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi Vọng Phu.) hoặc ké lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện bánh chưng bánh giày, Chuyện Trầu Cau), hoặc giải thích phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp, và tat cả những chuyện ky lạ khác” [6; tr60] 18 Năm 2001, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lê Chí Qué đã đưa ra định nghĩa: “Truyền thuyết là một thé loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cầu nghệ thuật thần kì” [5; tr49]. Theo từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hãn thì truyền thuyết: “Truyền thuyết là một loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải các nhân vật và sự kiện lịch sử, có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kỳ, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương” [4; tr3 10] Như vậy, truyền thuyết chính là thể loại của văn học dân gian, trong đó có những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá. mang yếu tố thần ky; truyén thuyết gắn liền với một thời kỳ, một địa phương hay một quốc gia. Lễ hội Lễ hội là đời sống tinh thần không thể thiếu của nhân loại nói chung và của người Việt nói riêng.
Trên đải đất hình chữ S, hàng năm có rất nhiều lễ hội được tô chức, vô cùng đặc sắc và phong phú; nó mang đặc trưng, nét đẹp và quan niệm riêng của từng dân tộc, vùng, miền, địa phương trong đó có: Lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội lich sử, lễ hội tôn giáo,. Trong nghiên cứu “Mọi sự suy nghĩ về nguồn gốc và bản chất của lễ hội cô truyền” tác giả Nguyễn Quang Lê đã chi ra lễ hội bao gồm hai hệ thống không thé tách rời: - Hệ thống lễ bao gồm các nghỉ lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng được chuẩn bị hết sức chu đáo và nghiên túc. Nghi lễ đóng vai trò quan trọng bởi nó chính là nơi mà con người được giao cảm, thé hiện sự kính trọng và ngưỡng vọng của mình đối với các vị thánh — dang siêu nhiên do con người tưởng tượng ra. Ở đó luôn chứa đựng ước vọng về sự bảo trợ và phù hộ cứu giúp cho cuộc sông của con người.
19 - Hệ thống lễ bao gồm các trò vui chơi, giải trí, các dam rước, ca múa dân gian.