Truyền thông về Kinh tế Biển, Đảo trên Báo chí Khu vực Tây Nam Bộ

Khám phá luận văn thạc sĩ về báo chí học truyền thông kinh tế biển đảo tại khu vực Tây Nam Bộ, phân tích và đánh giá xu hướng hiện nay.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Báo chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2022

138
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ KINH TẾ BIỂN ĐẢO

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2. Khái niệm chung về Biển, đảo

1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về kinh tế biển đảo

1.4. Tổng quan về kinh tế biển đảo khu vực Tây Nam Bộ và vai trò của báo chí truyền thông về vấn đề này

1.5. Vai trò và đặc trưng của báo chí truyền thông về kinh tế biển đảo

1.6. Tiêu chí đánh giá chất lượng tin, bài về vấn đề kinh tế biển đảo

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ KINH TẾ BIỂN ĐẢO TRÊN BÁO CHÍ TÂY NAM BỘ

2.1. Sơ lược các cơ quan báo chí được khảo sát

2.2. Tổng quan hoạt động tuyên truyền về kinh tế biển đảo trên báo chí Tây Nam Bộ

2.3. Các hình thức truyền thông về kinh tế biển đảo

2.3.1. Truyền hình

2.3.2. So sánh nội dung và hình thức truyền thông về phát triển kinh tế biển đảo trên Báo in và Truyền hình

2.3.3. Ưu điểm và hạn chế

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO KHU VỰC TÂY NAM BỘ

3.1. Những vấn đề đặt ra cho công tác truyền thông kinh tế biển hiện nay

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về kinh tế biển đảo

3.3. Một số kiến nghị

3.4. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Truyền Thông Kinh Tế Biển Đảo Mới

Việt Nam sở hữu vùng biển rộng lớn, đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng. Kinh tế biển đảo Tây Nam Bộ có tiềm năng lớn với bờ biển dài, nguồn lợi thủy hải sản phong phú, và vị trí chiến lược quan trọng. Nghị quyết 36-NQ/TW nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển bền vững kinh tế biển, gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của biển đảo và thúc đẩy phát triển bền vững. Tình trạng khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) cho thấy cần tăng cường công tác truyền thông chính sách và thực thi pháp luật. Luận văn này tập trung nghiên cứu truyền thông về kinh tế biển, đảo trên báo chí khu vực Tây Nam Bộ, nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

1.1. Vị Trí Tiềm Năng Kinh Tế Biển Đảo Tây Nam Bộ

Khu vực Tây Nam Bộ sở hữu bờ biển dài hơn 400km, với ngư trường khai thác rộng lớn trên 100.000km2, tiếp giáp nhiều quốc gia ASEAN, nguồn lợi thủy hải sản đa dạng, và trữ lượng dầu khí tiềm năng. Vị trí địa kinh tế và địa chiến lược quan trọng, kề tuyến hàng hải Đông - Tây, là cửa ngõ giao thương quốc tế. Lực lượng lao động dồi dào, dễ tiếp cận công nghệ mới, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế biển. Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Biển và hải đảo có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh của đất nước. Vùng biển Việt Nam thuộc Biển Đông — nơi có 1 trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất trên thế giới. Giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới (sau Địa Trung Hải).

1.2. Vai Trò Của Truyền Thông Trong Phát Triển Bền Vững

Truyền thông đóng vai trò then chốt trong việc kết nối xã hội, nâng cao nhận thức cộng đồng, bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển đảo bền vững. Các cơ quan báo chí cần khẳng định vị thế trong hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ và phát triển kinh tế biển, quốc phòng, an ninh. Hoạt động khai thác hải sản của ngư dân còn nhiều hạn chế, cần tăng cường truyền thông chính sách và thực thi pháp luật, đặc biệt trong bối cảnh EU rút thẻ vàng về chống khai thác IUU.

II. Tổng Quan Các Nghiên Cứu Truyền Thông Kinh Tế Biển Đảo

Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào truyền thông về biển đảo, chủ quyền, du lịch, và kinh tế biển. Các công trình nghiên cứu này đi sâu vào nội dung truyền thông, phân tích ưu, nhược điểm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về truyền thông kinh tế biển, đảo trên báo chí khu vực Tây Nam Bộ. Trong bối cảnh Biến đổi khí hậu biển đảo diễn biến phức tạp, nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống này, cung cấp cái nhìn tổng quan và giải pháp cụ thể cho khu vực Tây Nam Bộ.

2.1. Nghiên Cứu Về Chủ Quyền Biển Đảo Trên Truyền Thông

Luận văn của Nguyễn Thu Trang (2015) tập trung vào bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in, phân tích thực trạng thông tin trên các báo Nhân Dân, Khánh Hòa, Thanh Niên. Tác giả làm rõ lý luận và thực tiễn thông tin bảo vệ chủ quyền, đề xuất giải pháp tăng cường thông tin, nhưng chưa đi sâu vào khía cạnh kinh tế biểnbiến đổi khí hậu.

2.2. Nghiên Cứu Phát Triển Kinh Tế Biển Đảo Miền Trung

Luận văn của Hồ Dũng (2015) nghiên cứu vai trò của báo in trong phát triển kinh tế biển đảo miền Trung, chỉ ra thành công, hạn chế và đề xuất giải pháp. Luận văn của Lưu Thị Thanh Hà khảo sát việc tuyên truyền KTBĐ trên sóng truyền hình Hải Phòng. Cả hai công trình này đều tập trung vào các khu vực khác, do đó, nghiên cứu về Tây Nam Bộ có tính mới và cần thiết.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Truyền Thông Kinh Tế Biển Đảo Chi Tiết

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp nhiều phương pháp để đánh giá toàn diện thực trạng truyền thông kinh tế biển, đảo tại Tây Nam Bộ. Phương pháp phân tích nội dung được sử dụng để thống kê và đánh giá các tin, bài viết liên quan. Phương pháp phân tích thông điệp đánh giá chất lượng nội dung và hình thức truyền thông. Điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu thu thập ý kiến công chúng và chuyên gia, đảm bảo tính khách quan và sâu sắc của nghiên cứu.

3.1. Phân Tích Nội Dung Truyền Thông Kinh Tế Biển

Thống kê tin, bài viết, phóng sự về tuyên truyền kinh tế biển đảo trên Báo Cà Mau, Báo Kiên Giang, Báo Bạc Liêu, Đài PT-TH Cà Mau, Đài PT-TH Bạc Liêu, Đài PT-TH Kiên Giang từ tháng 7/2018 đến tháng 7/2019. Đánh giá thực trạng tuyên truyền, chỉ ra thành công, hạn chế và vấn đề đặt ra.

3.2. Điều Tra Xã Hội Học Phỏng Vấn Chuyên Gia

Thực hiện 200 mẫu điều tra ý kiến công chúng về hiệu quả tuyên truyền của báo chí về kinh tế biển đảo. Phỏng vấn sâu 6 lãnh đạo cơ quan báo chí và nhà báo viết về chủ đề này. Tổng hợp, đánh giá để có cái nhìn toàn diện, khách quan về hiệu quả truyền thông.

IV. Thực Trạng Truyền Thông Kinh Tế Biển Đảo Tại Tây Nam Bộ Phân Tích

Nghiên cứu tập trung vào các cơ quan báo chí tại Cà Mau, Kiên Giang, và Bạc Liêu, đánh giá nội dung, hình thức, và hiệu quả truyền thông kinh tế biển, đảo. Các nội dung chủ yếu bao gồm du lịch biển đảo, nuôi trồng và khai thác hải sản, đầu tư vào lĩnh vực kinh tế biển, và phát triển hạ tầng. So sánh nội dung và hình thức truyền thông giữa báo in và truyền hình, chỉ ra ưu điểm và hạn chế của từng loại hình.

4.1. Nội Dung Truyền Thông Chủ Yếu Về Kinh Tế Biển

Thông tin về du lịch biển đảo Tây Nam Bộ, nuôi trồng, khai thác, đánh bắt hải sản, và mô hình kinh tế biển. Thông tin về đầu tư vào lĩnh vực kinh tế biển, các dự án phát triển, đầu tư công trình cảng biển, khu neo đậu, dịch vụ hậu cần nghề cá, và an sinh xã hội. Đề cập đến đào tạo nhân lực cho ngành kinh tế biển, kinh tế các xã ven biển.

4.2. Hình Thức Truyền Thông Đa Dạng So Sánh Hiệu Quả

So sánh nội dung và hình thức truyền thông về phát triển kinh tế biển đảo trên báo in và truyền hình. Phân tích ưu điểm và hạn chế của từng loại hình báo chí. Đánh giá mức độ quan tâm của công chúng đối với vấn đề kinh tế biển đảo và hiệu quả truyền thông trên báo chí.

V. Giải Pháp Nâng Cao Truyền Thông Phát Triển Kinh Tế Biển Hay

Để nâng cao hiệu quả truyền thông về phát triển kinh tế biển đảo khu vực Tây Nam Bộ, cần xác định rõ những vấn đề đặt ra hiện nay. Các giải pháp cần tập trung vào việc đổi mới nội dung và hình thức truyền thông, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan báo chí, và nâng cao năng lực đội ngũ làm truyền thông. Ngoài ra, cần có những kiến nghị cụ thể để thúc đẩy phát triển kinh tế biển đảo bền vững.

5.1. Vấn Đề Đặt Ra Cho Truyền Thông Kinh Tế Biển Hiện Nay

Xác định rõ những thách thức và hạn chế trong công tác truyền thông kinh tế biển đảo. Phân tích nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này. Đề xuất các giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả truyền thông.

5.2. Đề Xuất Kiến Nghị Để Phát Triển Bền Vững

Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả tuyên truyền về kinh tế biển đảo. Đưa ra một số kiến nghị cụ thể để thúc đẩy phát triển kinh tế biển đảo bền vững. Cần thúc đẩy truyền thông bền vững gắn với bảo tồn biển đảo.

VI. Kết Luận Tương Lai Truyền Thông Kinh Tế Biển Đảo Tầm Nhìn

Nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ vai trò của truyền thông trong phát triển kinh tế biển đảo tại Tây Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan báo chí và nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách và triển khai các hoạt động truyền thông hiệu quả hơn. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh khác của truyền thông kinh tế biển đảo, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Đóng Góp Của Nghiên Cứu

Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu về truyền thông kinh tế biển đảo tại Tây Nam Bộ. Nêu bật những đóng góp của nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn. Khẳng định tầm quan trọng của truyền thông trong phát triển kinh tế biển đảo.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Triển Vọng Phát Triển

Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo về truyền thông kinh tế biển đảo. Nêu bật những triển vọng phát triển của kinh tế biển đảo trong tương lai. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục đầu tư vào truyền thông để hỗ trợ phát triển kinh tế biển đảo bền vững. Nghiên cứu thêm về truyền thông cộng đồngVăn hóa biển đảo Tây Nam Bộ.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VE TRUYEN THONG LIEN QUAN DEN VAN DE KINH TE BIEN DAO 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.1 Truyền thông Truyền thông ra đời cùng với sự phát triển của xã hội loải người, trên thé giới có nhiều khái niệm khác nhau về truyền thông. Theo định nghĩa chung nhất về truyền thông của PGS.TS Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) và TS. Đỗ Thị Thu Hằng, “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm.

chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiễn tới điều chỉnh hành vi và thái đội phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/ cộng đồng/xã hội. Trong đó, căn cứ vào tính chủ dich trong truyền thông, có thé phân chia thành: Truyền thông kinh nghiệm, truyền thông không chủ đích và truyền thông có chủ đích. Xét về truyền thông có chủ đích là hoạt động truyền thông có mục đích, được xác định rõ ràng với các kế hoạch, quá trình truyền thông. Các hoạt động truyền thông được thực hiện bởi các nhà hoạt động truyền thông chuyên nghiệp luôn là hoạt động truyền thông có chủ đích.

Tính chủ đích thể hiện cao ở các chương trình/ dự án, chiến dịch truyền thông với những chiến lược và các mục tiêu thống nhất cho nhiều hoạt động truyền thông có tổ chức trong các thời điểm khác nhau hoặc cùng thời điểm, nhằm đạt được sự tác động mạnh mẽ từ các nhà truyền thông. Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, PGS. Nguyễn Văn Dững định nghĩa như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đồi thông tin, tư tưởng, tình cảm., chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cau phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội nói chung, bảo dam sự phát triển bền vững”. 16 Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của tập thé tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang thì định nghĩa: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhăm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đôi trong hành vi và nhận thức” [41, tr13] 1.2 Bao chi Báo chi là sản phẩm thông tin về các sự kiện, van dé trong đời sống xã hội thể hiện băng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.

Trả lời cho câu hỏi báo chí là gì, trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của tập thể tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang đã giải thích như sau: “Báo chí - loại hình hoạt động thông tin chính trị - xã hội. Đề xã hội loài người ton tại và phát triển, con người cần nhiều loại hoạt động như sản xuất của cải vật chất để duy trì sự sống, sáng tạo nghệ thuật dé thoả mãn nhu cầu tinh thần. Một phần của hoạt động đó là hoạt động báo chí nhằm cung cấp thông tin cho công chúng biết mọi sự kiện, hiện tượng diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội”. Nhu vậy, có thé nói hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin về moi mặt của đời sông xã hội, được nhiều người quan tâm, có ảnh hưởng đến số đông.3 Báo in Đây là loại hình báo chí ra đời sớm với thế mạnh là có thể thông tin, phân tích, giải thích và giải đáp những vấn đề phức tạp một cách hệ thống, sâu sắc với độ tin cậy cao.

TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí đã đưa ra khái niệm như sau: “Báo in là những ấn phẩm định kỳ, băng ký hiệu chữ viết, 17 hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định” [10, tr. Có nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm báo in như trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, GS.TS Ta Ngoc Tan định nghĩa: “Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyên tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội” [47, tr.TS Dinh Văn Hường thì định nghĩa: “Báo in là tên gọi loại hình báo chí chuyển tải thông tin và hình ảnh trên giấy, được thực hiện bằng phương tiện kỹ thuật in và được phát hành rộng rãi trong xã hội. Các ấn phẩm báo in gồm có: báo, tạp chí, phụ trương và bản tin” [27, tr. TS Dương Xuân Sơn trong cuốn Báo in Việt Nam trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay thì: “Báo in là ấn phâm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội thông qua các công cụ như máy in, mực in, giấy in” [42, tr.

Tóm lại, có nhiều khái niệm về báo in nhưng cũng có thể hiểu đơn giản báo in là sản phẩm xuất bản định kỳ bằng nhiều hình thức khác nhau như: chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự khác, nhằm thông tin về các van dé: thời sự, xã hội nhằm phục vụ cho công chúng, nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định. Báo in được thực hiện bằng kỹ thuật in và phát hành rộng rãi trong xã hội. Truyền hình Là loại hình báo chí mà tin tức, hình ảnh được phát qua sóng truyền hình bằng âm thanh và hình ảnh động. Ưu thế chủ yếu của truyền hình là hình ảnh động về hiện thực trực tiếp.

Bên cạnh đó truyền hình cũng sử dụng những hình ảnh tĩnh như: ảnh tư liệu, mô hình, sơ đồ, biểu dé, số liệu. Theo định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, “Truyền hình là kênh truyền thông chuyền tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc von có từ cuộc sông cùng với lời nói, âm nhạc, tiêng động” [10, tr.TS Ta Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng đưa ra khái niệm: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyên tải thông tin bằng hình ảnh động va âm thanh” [47, tr. Điểm mạnh của truyền hình là có cả hình ảnh và âm thanh cùng lúc, điều này giúp truyền hình có khả năng chuyền tải thông tin phong phú. Thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực ở trạng thái “động”.

Ngày nay, khi chất lượng kỹ thuật hình ảnh ngày càng hoàn thiện, truyền hình ngày càng hấp dẫn công chúng hơn. Báo mạng điện tứ: Là loại hình báo chí - truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng internet toàn cầu. Dù ra đời sau nhưng ngày nay báo điện tử phát trién mạnh mẽ, đây là loại hình báo chí hội tụ được nhiều ưu điểm nổi trội của các kênh truyền thông ra đời trước đó. Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử.

Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng. Trước Luật Báo chí 2016 có nhiều nghiên cứu nói về Báo điện tử và đưa ra những thuật ngữ như Báo mạng điện tử. Nguyễn Thị Trường Giang trong cuốn Báo mạng điện tử “Những vấn đề cơ bản” đã đưa ra khái niệm: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao” [15, tr. Trong cuốn Giáo trình Lý luận báo chí truyền thông, tác giả Dương Xuân Sơn định nghĩa: Báo điện tử (Online newparper) là loại báo xuất hiện trên Internet (World Wide Wed).

Internet là mạng thông tin diện rộng, bao 19 trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sở kết nối các máy tính điện tử, cho phép liên kết con người lại bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích luỹ được của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông thống nhất. Quy mô, phạm vi ảnh hưởng của thông tin trên mạng Internet rộng lớn hơn nhiều so với các phương tiện thông tin thông thường khác. Với Internet, mọi người có khả nang va điều kiện rất thuận lợi trong viéc tiếp cận trực tiếp VỚI Các nguồn thông tin. Bên cạnh khả năng tương tác cao, báo điện tử còn có khả năng truyền thông tin đa phương tiện như có cả hình ảnh, âm thanh cùng lúc.6 Phát thanh Trên thế giới, Phát thanh ra đời từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Ra đời sau báo in, nhưng với thế mạnh của mình, phát thanh đã từng là loại hình báo chí giữ vị thế hàng đầu trong thời gian rất dài. Luật Báo chí năm 2016 định nghĩa: “Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau”. Nguyễn Van Dững thì phát thanh “là kênh truyền thông đại chúng sử dụng sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền di âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận. Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực.

Thông điệp được mã hoá truyền qua kênh truyền thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp [trl 11]. Tạ Ngọc Tan đưa ra khái niệm: “Phát thanh (radio) là loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyển tải qua âm thanh. Âm thanh trong phát thanh bao gồm lời nói, âm nhạc, các loại tiếng động làm nên hoặc minh hoa cho lời nói như tiếng mưa, gió, nước chảy, sóng v0, chim hót, tiếng vỗ tay, tiếng ôn đường phố. Thuật ngữ phát thanh 20 (radio) thực ra bao gôm cả hai loại hình nhỏ trong đó là phát thanh qua làn sóng điện từ và truyền thanh qua hệ thong dây dân” [tr.

Như vậy, có thé hiểu phát thanh là một loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyên tải qua âm thanh. Âm thanh trong phát thanh bao gồm ba yếu tố: lời nói, tiếng động, âm nhạc. Chính tiếng nói, âm nhạc và những âm thanh sống động luôn làm cho phát thanh gần gũi với đời thường, thu hút công chúng và trở nên quen thuộc trong nếp sống của mỗi người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu Truyền thông về Kinh tế Biển, Đảo tại Tây Nam Bộ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của truyền thông trong việc phát triển kinh tế biển và đảo tại khu vực Tây Nam Bộ. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các chiến lược truyền thông hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị và tiềm năng của kinh tế biển. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về cách thức truyền thông có thể hỗ trợ trong việc phát triển bền vững kinh tế biển, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của khu vực.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ vai trò nhà nước trong thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển ở thành phố Hải Phòng, nơi phân tích vai trò của nhà nước trong việc thu hút đầu tư cho kinh tế biển. Bên cạnh đó, tài liệu Phát triển kinh tế biển huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh sẽ cung cấp những giải pháp cụ thể cho việc phát triển kinh tế biển tại một địa phương cụ thể. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Đề án chính trị học kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền quốc gia trong thực hiện chiến lược kinh tế biển của Việt Nam, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực kinh tế biển và đảo.